Hiển thị các bài đăng có nhãn - Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

Lời khuyên cho mùa mua sắm nhân dịp cuối năm

Quan tâm đến tiếp thị nhanh: Thời điểm này có thể là quá trễ cho một chiến lược tiếp thị hoành tráng. Thay vào đó, bạn nên “chạy” những chiến lược quảng cáo và bán hàng trên Facebook hay Twitter. Mọi đối thủ của bạn đều đang làm việc này.


Thời điểm cuối năm không chỉ là lúc để doanh nghiệp tính toán doanh thu trong năm mà còn là lúc đẩy mạnh những chiến lược kinh doanh mới để kiếm thêm lợi nhuận.
5 cách sau đây sẽ giúp bạn tăng doanh thu trong mùa mua sắm cuối năm
Kích cầu: Nếu khách hàng của bạn không có ý định chi tiêu vào những ngày này thì hãy sử dụng hình thức giảm giá, khuyến mãi những mặt hàng cần thiết để họ thấy rằng nếu không mua ngay bây giờ thì về sau sẽ không được giá tốt như thế này nữa.
Thuê nhân sự bán thời gian: Mùa kinh doanh lớn vẫn đang ở trước mắt. Bạn đã đủ nhân lực để triền khai các kế hoạch chưa? Nếu chưa thì hãy thuê những nhân viên cũ hoặc học sinh, sinh viên để họ giúp bạn trong thời điểm cuối năm bận rộn này.

Thông minh trước vấn đề giá cả: Khách hàng luôn trở nên nhạy cảm với các vấn đề giá cả trong những ngày này, nhưng điều nàykhông có nghĩa là bạn cần đưa ra giá thấp nhất. Hãy chắc chắn rằng bạn nghiên cứu thị trường kỹ càng để có mức giá hợp lý. Bên cạnh đó bạn cũng nên nghĩ đến những sự kết hợp sản phẩm với nhau để khách hàng không thể được so sánh trực tiếp giá cả của bạn với các đối thủ khác.
Quan tâm đến tiếp thị nhanh: Thời điểm này có thể là quá trễ cho một chiến lược tiếp thị hoành tráng. Thay vào đó, bạn nên “chạy” những chiến lược quảng cáo và bán hàng trên Facebook hay Twitter. Mọi đối thủ của bạn đều đang làm việc này.
Học hỏi người khác: Hãy để ý xem những doanh nghiệp khác đang làm gì để thúc đẩy việc kinh doanh cuối năm. Hãy đưa ra bảng câu hỏi trên những trang khảo sát, Facebook để từ đó bạn có thể có thêm nhiều ý tưởng để hình thành những chiến lược kinh doanh mới.

Xu hướng mới trong kinh doanh

Mua theo nhóm bão hòa: Hầu hết các chuyên gia cho rằng các giao dịch hàng ngày (daily deal) va groupon đã sắp tới thời điểm bão hòa. Ngoài ra, không ít doanh nghiệp khi tham gia groupon bị lỗ. Do đó, hoạt động này sẽ phát triển theo chiều sâu với việc chất lượng các loại giao dịch sẽ được tập trung nâng cao trong năm 2012.


Lại một năm nữa sắp trôi qua với không ít thay đổi trong kinh doanh. Cuộc cạnh tranh trên thương thường ngày càng khốc liệt, các kênh quảng cáo tiếp thị ngày càng phong phú, hầu như doanh nghiệp nào cũng nỗ lực tận dụng tối đa mọi cơ hội để tiếp cận khách hàng và bán hàng. Tham khảo những dự báo sau đây về xu hướng trong kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ giúp bạn là người “đi trước đón đầu” trong năm 2012.
Tiếp thị đa phương tiện được yêu thích:
Kinh tế nhiều biến động: Với tình hình bấp bênh tại châu Âu hiện tại , nền kinh tế toàn cầu không ổn định vẫn là vấn đề lớn cho tất cả các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Người làm kinh doanh phải có kế hoạch dài hạn và ngắn hạn linh hoạt để có thể “sang số” một cách nhanh chóng trong bất kỳ tình huống nào.
Tiếp thị đa phương tiện được yêu thích: Sử dụng các công cụ tiếp thị mới sẽ giúp các chủ doanh nghiệp phân tích hành vi và ý kiến khách hàng tốt hơn trên nền tảng các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau. Sau đó,doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả để tiến hành các chiến dịch tiếp thị đến khách hàng đúng nơi đúng lúc.
Quảng cáo trực tuyến giá rẻ nở rộ: Các hoạt động tiếp thị trong năm tới sẽ tập trung xung quanh chiến thuật quảng cáo trực tuyến chi phí thấp, chẳng hạn như tìm kiếm trả phí. Thị trường quảng cáo trực tuyến chưa bao giờ hết sôi động kể từ khi nó ra đời.
Khách hàng cùng kinh doanh: Các doanh nghiệp vẫn đang duy trì và xây dựng cầu nối đến với khách hàng. Dưới sức mạnh của các công cụ khảo sát trực tuyến cũng như ảnh hưởng của mạnh xã hội, khách hàng ngày càng đóng vai trò quyết định hơn với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động tiếp thị.
Mua sắm qua điện thoại di động phát triển: Những nhà bán lẻ chưa tối ưu hóa trang web dành riêng cho điện thoại di động cần phải bắt đầu ngay. Thương mại di động đã tăng hơn gấp đôi trong năm nay, đạt đến $ 6,7 tỷ USD, và dự kiến sẽ tăng gấp bốn lần vào năm 2015.
Tín dụng được nới lỏng: Năm 2012, vấn đề tín dụng cho doanh nghiệp sẽ được giải quyết phần nào. Doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay hơn nhờ nhiều chính sách hỗ trợ của các chính phủ.
Đầu tư ra nước ngoài: Mở rộng thị trường, tối đa hóa cơ hội, giảm thiểu chi phí là điều mà bất cứ công ty nào cũng muốn đạt đến.
Mua theo nhóm bão hòa: Hầu hết các chuyên gia cho rằng các giao dịch hàng ngày (daily deal) va groupon đã sắp tới thời điểm bão hòa. Ngoài ra, không ít doanh nghiệp khi tham gia groupon bị lỗ. Do đó, hoạt động này sẽ phát triển theo chiều sâu với việ chất lượng các loại giao dịch sẽ được tập trung nâng cao trong năm 2012.
Hình thức bán lẻ được đa dạng hóa: Các kênh bán lẻ hiện đại sẽ được cải thiện và sáng tạo hơn nữa. Suy thoái kinh tế buộc các công ty phải tìm mọi cách để bán hàng.
Hợp tác và liên kết chặt chẽ: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chọn hình thức hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp lớn hơn trong ngành, trong khu vực để có vị thế vững chắc và khả năng cộng hưởng sức mạnh.

Cuộc cách mạng số hóa P&G

Điều quan trọng là khoa học máy tính phải giúp chọn lọc được những dữ liệu đầu vào chất lượng, bởi một khi dữ liệu đầu vào kém chất lượng, sản phẩm đầu ra cũng kém”, Robert cho biết. P&G còn chú trọng tuyển dụng những người có tư duy phân tích và sẵn sàng đào tạo lại.


Để hoàn thành sứ mệnh đưa P&G phát triển thành công ty có nền tảng công nghệ hỗ trợ hàng đầu thế giới, Robert McDonald, CEO của P&G, đang giám sát quá trình triển khai công nghệ số và phân tích tiên tiến trên diện rộng ở mỗi chức năng vận hành của P&G. Phần thưởng đạt được là ngày càng có nhiều sáng kiến hiệu quả, năng suất tăng, chi phí giảm và hứa hẹn một tốc độ tăng trưởng nhanh chóng hơn.
Thấu hiểu tức thời
Mục đích tối hậu của P&G là tiếp cận và giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng. Với công nghệ số, Công ty có khả năng duy trì mối quan hệ một-đối-một với từng khách hàng trên thế giới.
P&G đã phát triển một hệ thống gọi là “bắt mạch khách hàng”, sử dụng phương pháp phân tích Bayes để quét qua tất cả những nhận xét, phản hồi của khách hàng, phân loại chúng theo từng nhãn hàng và gửi kết quả đến những cá nhân liên quan, trong đó có CEO Robert.
Hệ thống này giúp P&G cập nhật và phản hồi nhận xét của khách hàng theo thời gian thực, bởi nếu khách hàng đăng nhận xét trên blog của họ mà bạn không phản hồi ngay lập tức, hoặc tệ hơn là bạn không hề hay biết, thì đến khi vụ việc trở nên nghiêm trọng, bạn sẽ trở tay không kịp. Hệ thống này còn hỗ trợ việc liên tục cải tiến hoạt động.
Chẳng hạn, những phản hồi tức thời của khách hàng về đặc tính của sản phẩm nước xả Downy Unstopables khi P&G mới tung ra sản phẩm này có thể giúp Công ty điều chỉnh chiến lược tiếp thị.
Ở khía cạnh vận hành, quá trình số hóa còn giúp nâng cao năng suất của tất cả bộ phận, từ nhà máy sản xuất đến cửa hàng bán sản phẩm. Tại các nhà máy sản xuất, công nhân có thể sử dụng iPad để tải dữ liệu từ dây chuyền sản xuất theo thời gian thực và chuyển cho bộ phận xử lý. Không dừng lại ở đó, tham vọng của P&G là có thể theo dõi bất kỳ sản phẩm nào tại bất kỳ nhà máy nào vào bất kỳ thời gian nào.
Ngoài ra, việc kiểm soát chi phí của từng sản phẩm tại từng giai đoạn của quá trình sản xuất cũng là mục tiêu P&G hướng tới.
Về khâu vận chuyển và logistics, P&G đã phát triển một chương trình vận hành mang tên Control Tower, giúp giám sát toàn bộ hoạt động vận chuyển đang triển khai: vận chuyển trong nước, ngoài nước; vận chuyển vật liệu thô, thành phẩm...
Hiện P&G là một trong ba công ty sử dụng xe tải vận chuyển lớn nhất nước Mỹ và nhờ chương trình này, tỷ lệ xe chạy không đã giảm hơn 15%, qua đó giảm thiểu chi phí và lượng khí thải carbon.
Để khắc phục sự cố tỷ lệ đơn đặt hàng có lỗi giữa đơn vị bán lẻ và nhà cung cấp khá cao, P&G xây dựng một kho dữ liệu chuẩn hóa mang tên GDSN, cho phép tự động kết nối với các đơn vị bán lẻ và không cần con người can thiệp. Nhờ đó, tỷ lệ lỗi trong đơn đặt hàng giảm xuống gần như bằng 0, giúp các bên tiết kiệm được hàng triệu USD.
Với những đơn vị bán lẻ hợp tác với P&G, Công ty còn hỗ trợ tư vấn bày hàng qua điện thoại: nhân viên có thể chụp ảnh hàng hóa họ bày trên kệ, bức ảnh sẽ được hệ thống so sánh tự động với các tiêu chuẩn của P&G và đưa ra những chỉ dẫn bày hàng cần thiết nhằm gia tăng hiệu quả trưng bày và tối đa hóa doanh số.
Sáng kiến số hóa và nâng cấp nguồn dữ liệu
Để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí khi phát triển một sản phẩm mới, P&G xây dựng những phần mềm, công cụ số, mô phỏng dữ liệu và nguồn dữ liệu mang tính đại diện về khách hàng.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và phát triển những tính năng mới của sản phẩm, truy nguyên nguồn gốc của nguyên vật liệu sử dụng, theo dõi lượng khí thải carbon và dự báo hoạt động của chúng trên thực tế cũng hoàn toàn có thể được thực hiện bởi công nghệ. Đây là điều rất có ý nghĩa đối với chính sách sản xuất xanh mà P&G và nhiều công ty khác đang theo đuổi.
Với những công ty phụ thuộc vào những đối tác cung cấp dữ liệu bên ngoài như P&G, có được dữ liệu phù hợp là một nhiệm vụ quan trọng. Có thể nói, dữ liệu tại P&G thậm chí còn quan trọng hơn cả thương hiệu, chính dữ liệu hỗ trợ sự phát triển của thương hiệu thông qua những quyết sách đúng đắn bắt nguồn từ sự thấu hiểu khách hàng.
Có được dữ liệu quý đã vô cùng khó khăn, bảo vệ được nguồn dữ liệu này còn quan trọng gấp bội. Nhờ công nghệ và quá trình hợp tác cùng có lợi với các đơn vị bán lẻ, nguồn dữ liệu của P&G luôn được cập nhật mới theo thời gian thực và đồng bộ hóa cho toàn hệ thống của P&G trên toàn cầu. Nhờ đó, các văn phòng có thể giao tiếp trên cùng một cơ sở hiểu biết và triển khai chiến lược đồng bộ.
Lực lượng lao động am hiểu công nghệ
Ba thập niên về trước, P&G đã có hệ thống máy tính trung ương nhưng phần lớn công việc được thực hiện qua điện thoại. Hơn hai thập niên sau đó, P&G đã đề ra những chiến lược tuyển dụng rõ ràng nhằm chiêu mộ những người có chuyên môn về kỹ thuật mô phỏng và tạo mẫu qua máy tính. “Chúng tôi muốn là công ty đi đầu trong lĩnh vực khoa học máy tính, từ những vấn đề cơ bản như nhập lệnh đến lập trình bậc cao.
Điều quan trọng là khoa học máy tính phải giúp chọn lọc được những dữ liệu đầu vào chất lượng, bởi một khi dữ liệu đầu vào kém chất lượng, sản phẩm đầu ra cũng kém”, Robert cho biết. P&G còn chú trọng tuyển dụng những người có tư duy phân tích và sẵn sàng đào tạo lại.
Tư duy phân tích có vai trò rất quan trọng đối với Công ty, bởi P&G cần những người có ý tưởng đột phá, và những phát kiến sau đó luôn được phát triển với sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống dữ liệu số.

Có 43% DN trên toàn cầu sử dụng truyền thông xã hội

Nguyễn Thị Vĩnh Hà – Phó tổng giám đốc Grant Thornton Việt Nam cho biết: “Việt Nam, với tỷ lệ 31%, truyền thông xã hội chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu Công nghệ Thông tin, Tìm kiếm, Giao tiếp Tức thời, sử dụng truyền thông xã hội cao hơn so với con số trung bình toàn cầu, nhưng thế hệ trẻ chiếm một phần lớn vì vậy truyền thông xã hội chủ yếu được sử dụng cho việc chia sẻ thông tin cá nhân, do đó, phương tiện này chưa thật sự xâm nhập được vào cộng đồng doanh nghiệp”


Trong báo cáo Kinh Doanh Toàn Cầu mới đây của Grant Thornton (IBR) thì các doanh nghiệp trong những nền kinh tế mới nổi đang chiếm ưu thế trong việc tận dụng các công cụ truyền thông xã hội trước các đối tác phương tây.
Trên toàn cầu hiện nay 53% sử dụng truyền thông xã hội để quảng cáo, 51% dùng để tương tác với khách hàng, 43% dùng cho mục đích tuyển dụng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có đến 43% doanh nghiệp trên toàn cầu sử dụng truyền thông xã hội. Tuy nhiên, tỉ lệ này đang tăng lên là 53% ở các nước Châu Mỹ La Tinh và các nền kinh tế BRIC. Đối với các nền kinh tế phát triển thì tỉ lệ lại thấp hơn rất nhiều, G7 là 40% và Châu Âu chỉ có 35%. Trong khi hơn ¾ (78%) các doanh nghiệp Châu Mỹ La Tinh có ý định tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội thì chỉ có 2/3 (66%) các doanh nghiệp Châu Âu chỉ có 55% đối với khối G7 tán thành việc sử dụng truyền thông xã hội. Tỷ lệ này ở khối ASEAN là 75% cao hơn mức trung bình toàn cầu là 61%.

Kết quả trên như là một hồi chuông cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đang từ chối nắm lấy những cơ hội tận dụng truyền thông xã hội, trong một thị trường thương mại điện tử dự kiến sẽ có giá trị lên đến 1,4 ngàn tỷ USD vào năm 2015.
Tỷ lệ sử dụng internet tại các nước mới nổi vẫn còn xếp sau Mỹ và Châu Âu nhưng tiềm năng còn rất lớn, còn đó một thị trường khổng lồ để khai thác. Điển hình tại Trung Quốc có 485 triệu người sử dụng internet, con số này chỉ chiếm 36% dân số của quốc gia này. Tại Ấn Độ mới chỉ có 10% dân số sử dụng, truy cập internet. Thật sự là một thách thức rất lớn cho các lãnh đạo doanh nghiệp Châu Âu đó là “ Nắm bắt hay thụt lùi”.
Kết quả cũng cho thấy rằng, trên toàn cầu hiện nay 53% sử dụng truyền thông xã hội để quảng cáo, 51% dùng để tương tác với khách hàng, 43% dùng cho mục đích tuyển dụng. Ở Châu Âu 64% sử dụng cho mục đích quảng cáo, tại Bắc Mỹ có đến 63% sử dụng như một công cụ tuyển dụng đắc lực. Trong khi đó, tương tác với khách hàng được sử dụng nhiều nhất tại Châu Mỹ Latinh (72%) và Châu Á (65%).
Tại Việt Nam 28% doanh nghiệp được khảo sát sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, trong đó 20% cho quảng cáo, 10% cho tuyển dụng, 8% cho giao tiếp với các nhà cung cấp, 16% cho tương tác với khách hàng và chỉ 4% cho giao tiếp với nhân viên, khá thấp so với một tỷ lệ lớn dân số sử dụng Internet của cả nước.
Nguyễn Thị Vĩnh Hà – Phó tổng giám đốc Grant Thornton Việt Nam cho biết: “Việt Nam, với tỷ lệ 31%, truyền thông xã hội chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu Công nghệ Thông tin, Tìm kiếm, Giao tiếp Tức thời, sử dụng truyền thông xã hội cao hơn so với con số trung bình toàn cầu, nhưng thế hệ trẻ chiếm một phần lớn vì vậy truyền thông xã hội chủ yếu được sử dụng cho việc chia sẻ thông tin cá nhân, do đó, phương tiện này chưa thật sự xâm nhập được vào cộng đồng doanh nghiệp”
Bảng khảo sát cũng chỉ ra rằng bất chấp sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện truyền thông mới, báo chí vẫn là nguồn thông tin ưa thích của các chủ doanh nghiệp. Trên toàn cầu, 4/5 doanh nghiệp (79%) đọc báo ít nhất 3 lần/tuần. Hơn nữa báo giấy và báo mạng hiện vẫn chiếm được nhiều sự đồng tình với tỷ lệ 51%.

Lợi nhuận còn xa

Trong khi đó, các mạng xã hội định hình văn hóa riêng trước đó như Zing Me, iFun Me, ViHuni vẫn tìm mọi cách tăng số lượng thành viên. Gần đây nhất các mạng này đã tích hợp vào điện thoại di động để tạo nên mô hình “mạng xã hội trên điện thoại di động”.

Mạng xã hội bắt đầu được nhìn nhận như một công cụ tiếp thị hiệu quả, thậm chí là không thể thiếu trong nhiều chiến dịch tiếp thị. Nhiều mạng xã hội đã được lập nên để phục vụ nhu cầu này, nhưng không ít trong số đó đã chết yểu. 
Cuộc sống của Lê Đình Hùng, chủ thương hiệu trang sức cao cấp Cửu Long Jewellery, thực sự thay đổi bởi Facebook. Mỗi ngày, xen giữa những sinh hoạt hằng ngày của mình, ông Hùng đều dành một khoảng thời gian cố định cho Facebook: 4 giờ sáng dậy tập thể dục 30 phút, dành 30 phút tiếp theo cho Facebook, ăn sáng và thêm 1 giờ nữa cho Facebook.

Cuộc cách mạng...
87% số người dùng internet tại Việt Nam đã tham gia vào các mạng xã hội. Dẫn đầu vẫn là Facebook, với hơn 5,3 triệu thành viên tính đến thời điểm hiện tại.
Không ít doanh nhân tuổi trung niên như ông Hùng xem Facebook là trò chơi của giới trẻ, một mạng xã hội điện tử với những chuyện tán gẫu đời thường và vì thế họ phản ứng lại nó một cách thờ ơ. Ông Hùng hầu như không quan tâm đến những thứ thuộc về công nghệ cho đến khi ông nhận ra nó có thể mang lại lợi ích cho việc kinh doanh của ông.

Cũng như các công ty Việt Nam trong thời điểm kinh tế khó khăn, gần 3 năm qua Cửu Long Jewellery đã phải thu hẹp quy mô, đóng cửa một số cửa hàng. Dưới áp lực doanh thu, chi phí marketing phải giảm, nhưng ông Hùng cũng không thể để thương hiệu yếu dần. Ông bắt đầu thay đổi chiến lược: định vị lại phân khúc sản phẩm. Từ thương hiệu cao cấp, Cửu Long Jewellery chuyển mình thành thương hiệu đa phân khúc, tập trung nhiều hơn vào sản phẩm trang sức cưới chứ không chỉ là các dòng sản phẩm phục vụ số ít người tiêu dùng thượng lưu.

Cùng với sự thay đổi chiến lược, bài toán đặt ra là làm sao quảng bá thương hiệu cho số đông mà không phải tốn ngân sách quá lớn. “Tôi nghe nói có một thế giới gói gọn chỉ trong 1 trang web. Và tôi nghĩ mình có thể làm một thứ gì đó với nó mà không phải tốn nhiều tiền”.

Thế giới mà cách đây 6 tháng ông Hùng khám phá ra là Facebook, một cộng đồng mạng xã hội được thành lập năm 2004 ở Mỹ hiện đã có hơn 800 triệu người dùng. Facebook Việt Nam dù hoạt động không chính thống tại đây nhưng cũng đã trở thành món ăn tinh thần của một bộ phận lớn giới trẻ và cận trung niên, từ 25-34 tuổi.

Việc tiếp thị cho Cửu Long Jewellery được ông Hùng thực hiện khá dễ dàng trên Facebook. Ông tạo lập một mạng lưới bạn bè và mời gọi đối tác, khách hàng tham gia, đưa số lượng người tham gia từ con số 0 cách đây 6 tháng lên hơn 5.000. Bên cạnh đó, ông còn triển khai các cuộc thi có thưởng để quảng bá thương hiệu. Nếu bạn muốn cùng người yêu tận hưởng một buổi tối lãng mạn ở nhà hàng Charm-Cham có xe riêng đưa đón, được sở hữu một bộ hình cưới miễn phí và một bộ trang sức cưới trị giá hơn 20 triệu đồng thì hãy viết những lời yêu thương để được “Like” (tính năng bình chọn) nhiều nhất trong cuộc thi “Lời tỏ tình” do Cửu Long Jewellery tổ chức trên Facebook.
Vấn đề không phải là tôi hay bạn sẽ có bao nhiêu cơ hội đạt được giải thưởng từ các cuộc thi tương tự mà là nhà kinh doanh đang thu được rất nhiều lợi ích từ nó. Chính ông Hùng không khỏi ngạc nhiên với số lượng thành viên liên tục tăng và doanh thu sau 6 tháng đã tăng 5%. “Con số tăng trưởng doanh thu không phải quá cao nhưng nó cho tôi thêm nhiều niềm tin về tương lai của các mạng xã hội”, ông Hùng chia sẻ.

Trước cả các ông chủ doanh nghiệp, các nhà tiếp thị (marketer) đã xem mạng xã hội là lựa chọn tốt bên cạnh các kênh tiếp thị truyền thông. Bà Nguyễn Thùy Châu, Giám đốc Kinh doanh và Tiếp thị, Công ty Sophie Paris Việt Nam, chuyên phân phối các phụ kiện thời trang cho giới nữ, cho biết, cách đây 1 năm, hãng này đặt mục tiêu tạo lập được 10.000 nhà phân phối với doanh thu 40 tỉ đồng tại Việt Nam. Tuy nhiên, con số này tính đến tháng 10/2011 đã là 24.000 nhà phân phối với doanh thu gần 90 tỉ đồng. “Số lượng nhà phân phối tăng một phần là do các cuộc thi mà chúng tôi tổ chức trên mạng xã hội”, bà Châu chia sẻ.
Tăng trưởng doanh thu của Facebook
Đó là câu chuyện của tháng 6, khi Sophie Paris mở một cuộc thi mang tên “Tôi yêu Sophie” trên Facebook. Theo đó, các thành viên của mạng xã hội tham gia chụp ảnh cùng các mẫu sản phẩm của Sophie và phần thưởng căn cứ vào số lượng “Like” của cộng đồng. Kết quả là sau 1 tháng, Sophie Paris thống kê có gần 4.000 người tham gia cuộc thi này.
“Chúng tôi không nghĩ sẽ từ bỏ các kênh marketing khác, nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì các hoạt động của mình trên mạng xã hội. Sophie Paris có 1 nhân viên chuyên trách việc thực hiện các hoạt động marketing trên mạng này. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ chỉ dùng Facebook và chưa có ý định tham gia các mạng xã hội Việt Nam bởi số lượng người tham gia còn hạn chế”, bà nói thêm.

Ngay cả những ông lớn như Nokia, dù chi khá nhiều cho các kênh quảng bá truyền thống vẫn không thể ngó lơ các mạng xã hội. Bà Phan Cẩm Ly, Giám đốc Truyền thông Nokia Việt Nam, từ chối tiết lộ kết quả kinh doanh sau những đợt tiếp thị qua mạng xã hội nhưng bà khẳng định, Nokia đang xem mạng xã hội như một công cụ tiếp thị quan trọng. Facebook cũng được khá nhiều các doanh nghiệp kinh doanh loại hình “mua chung” (Groupon) tại Việt Nam như NhomMua, CungMua… tận dụng để quảng bá các mặt hàng họ kinh doanh.

Sự thành công bước đầu của Cửu Long Jewellery, Sophie Paris Việt Nam hay Nokia Việt Nam khớp với những thống kê của ComScore, một tổ chức đo lường hiệu quả truyền thông trực tuyến trên thế giới, rằng 87% số người dùng internet tại Việt Nam đã tham gia vào các mạng xã hội (tính đến tháng 12/2010). Dẫn đầu vẫn là Facebook, với hơn 5,3 triệu thành viên tính đến thời điểm hiện tại (theo thống kê của Ad Planner).

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát hồi tháng 8/2011 của Công ty Nghiên cứu Thị trường Nielsen cũng cho thấy, so với mặt bằng chung của thế giới, người tiêu dùng ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi quảng cáo trực tuyến, đặc biệt là các nội dung quảng cáo có định hướng tới người dùng, thông qua các mạng xã hội.
Báo cáo này dẫn ra, có đến 69% người tiêu dùng ở Đông Nam Á đã “thích” hoặc “theo” một thương hiệu hoặc công ty trên các trang mạng xã hội, cao hơn nhiều so với bình quân thế giới là 52%. Con số này đặc biệt cao ở Việt Nam (79%) và Philippines (75%). Và các trang mạng xã hội do người dùng xây dựng nội dung (người dùng đăng ý kiến của mình lên đó) là hình thức được người tiêu dùng Đông Nam Á tin tưởng nhất. Nhìn chung, 54% người được khảo sát tin tưởng hoàn toàn hoặc một phần vào ý kiến của người tiêu dùng trên các mạng xã hội.

Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong các mạng xã hội để tận dụng nó cho các hoạt động tiếp thị còn khiêm tốn. Theo Vinalink, công ty chuyên về dịch vụ khảo sát marketing trực tuyến, hiện chỉ có 1% doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến mạng xã hội. Và đó chính là lý do khiến cho đường đến lợi nhuận của các mạng xã hội Việt Nam vẫn còn thăm thẳm.

... Với không ít sự hy sinh
Tăng trưởng số lượng thành viên của Facebook
Phần lớn những câu chuyện ứng dụng mạng xã hội vào marketing ở trên đều có mặt ông lớn Facebook, trong khi các mạng xã hội Việt Nam còn khá nhạt nhòa trong mắt các nhà kinh doanh.

Hồ Quang Khánh, ông chủ của Cyvee, một mạng xã hội nghề nghiệp gần giống LinkedIn của thế giới, đã phải chuyển sang kinh doanh mô hình Groupon sau cuộc đầu tư hàng chục triệu USD vào mạng xã hội không mấy thành công. Nếu ngay trong giai đoạn đầu 2008-2009, Cyvee đã có xấp xỉ 70.000 thành viên thì đến nay, con số chỉ lên khoảng 100.000 thành viên. “Những khoản đầu tư cho mạng xã hội rất lớn, trong khi đó chúng tôi chỉ nhặt lại bạc cắc từ quảng cáo trực tuyến”, ông Khánh trăn trở.
Vì sao các mạng xã hội lại thu hút quảng cáo ít đến như vậy? Có 2 lý do chính. Ông Ong Xuân Minh, một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của website 24h, khẳng định những người làm tiếp thị tại Việt Nam luôn nghi ngờ về hiệu quả của các phương tiện truyền thông mới. Sự tham gia của họ chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm. Và trong khi chờ đợi để gầy dựng lòng tin của đối tượng này, các ông chủ mạng xã hội không thể có đủ doanh thu để duy trì hoạt động.

Thứ hai, theo ông Minh, lượng thành viên tham gia chưa đủ lớn ở các trang mạng xã hội Việt Nam cũng khiến các marketer chưa xem đây là mảnh đất màu mỡ cho hoạt động tiếp thị. Nguyên nhân của việc này là các trang mạng xã hội chưa thực sự đầu tư vào nội dung để thu hút thành viên, trong khi, theo chuyên gia truyền thông Juliette Powel, người nổi tiếng với tác phẩm “33 triệu người trong 1 phòng” thì với lĩnh vực truyền thông số “nội dung là vua”. 
Nhưng ngay cả khi có đủ tiền để chờ đợi và đủ sức làm nội dung thì không phải các mạng xã hội một sớm một chiều là đã làm giàu được. Ngay cả Facebook, ông hoàng của mạng xã hội thế giới, cũng chỉ đạt khoảng 2 tỉ USD doanh thu trong năm 2010. Cho nên không lạ gì khi hàng trăm mạng xã hội tại Việt Nam đã lặng lẽ đóng cửa. Và con số này sẽ còn nhiều nữa chừng nào các mạng xã hội chưa nhìn nhận rõ ràng về những đặc trưng của mô hình này, so với các loại hình kinh doanh online khác.

Chân lý ở đâu?
Theo EMarketer, một công ty nghiên cứu về marketing online khác của Mỹ, Facebook dự kiến đạt doanh thu 4,27 tỉ USD trong năm 2011, gấp đôi mức 2 tỉ USD trong năm 2010.
Đặc trưng đầu tiên là nguồn thu của mạng xã hội không thể chỉ dựa vào quảng cáo. Dù có những lợi thế như quảng cáo trúng đích hơn, đến những đối tượng có chọn lọc hơn nhưng thực tế, quảng cáo trên Facebook không phải là lựa chọn tốt nhất của các marketer. Hiệu quả quảng cáo trực tuyến thường được đo lường bằng chỉ tiêu “tỉ lệ nhấp chuột” (CTR) vào một mẫu quảng cáo. Tỉ lệ này trên Facebook chỉ khoảng 0,04 - 0,05% (trong số 1.000 người dùng chỉ có 4-5 người nhấp vào xem quảng cáo), thấp hơn 200 lần so với mức 8% của Google.
Và không chỉ Facebook, tỉ lệ nhấp chuột thấp là điểm chung của hầu hết mạng xã hội, vì theo công ty nghiên cứu về marketing online BizReport, người dùng các trang mạng xã hội bị chi phối bởi các bài viết, các cuộc trò chuyện với bạn bè nên thường sao nhãng với quảng cáo.

Điều này cũng thể hiện rõ trong cơ cấu doanh thu của Facebook, khi doanh thu từ quảng cáo đang tăng chậm dần, thay vào đó là nguồn thu từ game và các ứng dụng. Theo EMarketer, một công ty nghiên cứu về marketing online khác của Mỹ, Facebook dự kiến đạt doanh thu 4,27 tỉ USD trong năm 2011, gấp đôi mức 2 tỉ USD trong năm 2010.
Điểm đáng chú ý là trong đó doanh thu quảng cáo chỉ tăng 104% so với năm trước, đạt 3,8 tỉ USD, trong khi doanh thu từ ứng dụng Facebook Credits tăng hơn 300%, đạt 470 triệu USD. Facebook Credits là một loại tiền ảo, cho phép người dùng thanh toán tiền mua các ứng dụng, các game trên Facebook. Điều này cũng không xa lạ ở Việt Nam khi Zing Me của VNG, một công ty có tiếng về game online, hay TamTay.vn được đầu tư bởi Quỹ IDG Venture vẫn đang phải sống dựa vào nguồn thu từ game.

Thứ hai, chất lượng cộng đồng chính là tài sản của mạng xã hội. Theo chuyên gia mạng xã hội Juliette Powell hiệu quả doanh thu của mạng xã hội, mà Juliette gọi là “vốn tài chính” (financial capital), chỉ có được tối ưu khi mạng xã hội thực hiện đúng công thức “vốn xã hội” (social capital) + “vốn văn hóa” (cultural capital). Nói một cách đơn giản, chừng nào mạng xã hội xây dựng một đội ngũ “bạn bè” đủ lớn (vốn xã hội) bằng cách tạo ra các trải nghiệm thú vị (vốn văn hóa) thì tiền (vốn tài chính) mới từ đây sinh ra.
Tuy nhiên, vượt trên tất cả, dữ liệu người dùng mới là kho tàng vô tận mà các mạng xã hội chưa thể khai thác vì các cam kết bảo mật thông tin cá nhân. Cũng như nhiều mô hình kinh doanh đa nền tảng (multi-sided platform) khác, các mạng xã hội cùng lúc có 2 đối tượng khách hàng để phục vụ. Một bên là hơn 800 triệu thành viên, cung cấp khối lượng dữ liệu cá nhân khổng lồ nhưng luôn yêu cầu được bảo mật và không thích bị làm phiền bởi quảng cáo. Bên kia là các thương hiệu lớn, sẵn sàng chi tiền để tiếp cận nguồn dữ liệu cá nhân người dùng và đưa quảng cáo đến đúng đối tượng. Và mạng xã hội chỉ có thể kiếm tiền khi nào phục vụ được cả 2 khách hàng này.

Bất chấp những cảnh báo về cuộc sống yểu mệnh của các trang mạng xã hội tại Việt Nam, nhiều nhà kinh doanh vẫn tiếp tục đổ tiền của vào con đường này, tích cực xây dựng chất lượng cộng đồng, bằng cách gia tăng vốn xã hội cũng như vốn văn hóa. Chỉ trong vòng 1 năm qua, hàng loạt những gương mặt mạng xã hội mới ra đời như Anphabe.com, Truongxua.vn, Bang.vn.
Con số hiện vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay như Facebook (800 triệu thành viên, tính đến tháng 9/2011), Twitter (300 triệu), LinkedIn (115 triệu người), MySpace (30 triệu)...
Các mạng này bắt đầu định hình vốn văn hóa riêng biệt để thu hút công chúng. Bang.vn dường như đi theo con đường của Facebook (gồm các nội dung kết bạn, chia sẻ âm nhạc, hỏi đáp, quảng bá, rao vặt, việc làm, kinh doanh dữ liệu); Anphabe lại chọn phân khúc giới văn phòng, doanh nhân, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn; Truongxua thì chọn phân khúc giới trí thức gắn bó với trường lớp.

Trong khi đó, các mạng xã hội định hình văn hóa riêng trước đó như Zing Me, iFun Me, ViHuni vẫn tìm mọi cách tăng số lượng thành viên. Gần đây nhất các mạng này đã tích hợp vào điện thoại di động để tạo nên mô hình “mạng xã hội trên điện thoại di động”.

Nhìn chung, dù số lượng thành viên các mạng xã hội được dự báo sẽ gia tăng không ngừng trong thời gian tới, điều đó không đồng nghĩa các nhà kinh doanh mạng xã hội sẽ có nhiều đất sống. Có thể làm một so sánh rằng với 7 tỉ người trên thế giới thì cũng chỉ có chưa đến 10 mạng xã hội phát triển được. Con số hiện vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay như Facebook (800 triệu thành viên, tính đến tháng 9/2011), Twitter (300 triệu), LinkedIn (115 triệu người), MySpace (30 triệu)...
Và câu chuyện Facebook, ông hoàng mạng xã hội hiện nay được định giá tới 70 tỉ USD dù doanh thu năm 2011 dự kiến cũng chỉ hơn 4 tỉ USD, liệu có thể chỉ là hiện tượng?

Lạc quan để đạt doanh số cao


Nếu bạn đã thử tất cả những lời khuyên này và vẫn cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng. hãy dành thời gian để nghỉ ngơi. Khi doanh số không đạt được chỉ tiêu, áp lực lên nhân viên bán hàng là rất lớn và không ai nghĩ đến chuyện nghỉ phép.

Thời điểm hiện tại không phải là thời điểm dễ dàng đế bán hàng. Áp lực doanh số, áp lực cạnh tranh khiến bất cứ ai hoạt động trong lĩnh vực này cảm thấy mệt mỏi. Tuy nhiên, sự căng thẳng của bạn càng khiến khách hàng “bỏ chạy”. Lời khuyên từ các chuyên gia là luôn giữ tinh thần vui vẻ, lạc quan, hình ảnh chỉnh chu để thuyết phục khách hàng.

Tuy nhiên, phải làm thế nào để nhanh chóng thoát ra khỏi những thất bại, khó khăn, mệt mỏi và lấy lại “phong độ”? Bạn không thể thuyết phục được khách hàng nếu bản thân bạn không hứng thú gì với việc bán hàng. Hãy tự “làm mới” bản thân và tìm cho mình một con đường.

Học hỏi từ những thất bại
Để đạt doanh số cao, người bán hàng phải luôn giữ tinh thần vui vẻ, lạc quan, hình ảnh chỉnh chu để thuyết phục khách hàng.
Thay vì cảm thấy chán nản vì đã thực hiện 100 cuộc gọi bán hàng mà không có phản hồi từ bất kỳ một khách hàng nào, hãy xem xét lại về cách tiếp cận. “Có thể bạn không gọi đúng người hoặc không đúng thời điểm"- Jill Konrath, tác giả quyển “Bán hàng cho những công ty lớn (Kaplan Publishing 2005) chia sẻ. Hãy chú ý đến những khoảng thời gian thích hợp để gọi điện.
Sau đó, tiếp tục xem xét lại thông điệp mà bạn muốn gửi đến khách hàng, cách bạn bắt đầu câu chuyện. Liệu bạn có phạm sai lầm nào không? Thông điệp của bạn có đánh trúng tâm lý khách hàng chưa?
Bạn nên nhấn mạnh sự khác nhau của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp của bạn cung cấp và luôn kiên nhẫn giải thích với khách hàng.
Tận dụng các ý tưởng
Hãy học hỏi những chiến lược bán hàng từ nhiều nguồn, đặc biệt là từ những nhà quản trị của các công ty có doanh số cao. Thử nhiều chiến lược và cách thức khác nhau cho đến khi tìm được một chiến lược phù hợp nhất cho mình. Đọc sách và học hỏi không bao giờ thừa.
Giữ liên lạc với khách hàng thân quen
Nếu bạn thực hiện 10 cuộc gọi bán hàng và tất cả đều kém khả quan, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi và nản chí. Nếu bạn có một ngày như thế, hãy chuyển sang tiếp cận các,khách hàng thân thiết – những người đánh giá cao sản phẩm của bạn. Việc này giúp bạn tiếp thêm nhiên liệu để vượt qua khó khăn . "Bằng cách nói chuyện với các khách hàng tích cực, bạn sẽ cho mình lý do vì sao bạn làm công việc hiện tại và giúp bạn sẵn sàng để đối phó với những khó khăn tiếp theo." Konrath khẳng định.
Đối mặt với sợ hãi
Ai cũng có nỗi sợ hãi của riêng mình. Konrath nhớ lại” Lần đầu tiên tôi bắt đầu công việc bán hàng, tôi rất run và hầu như không thể thuyết phục nổi khách hàng. Tôi sợ bị khách hàng từ chối hoặc làm khách hàng khó chịu. Lúc ấy, tôi có cảm giác mình không sinh ra để làm công việc này. Tuy nhiên, sau đó tôi đã quyết định phải làm việc chăm chỉ để có được thành công. Từng bước, từng bước một tôi nâng cao kỹ năng bán hàng và tự tin hơn vào bản thân. Doanh số cũng ngày càng cải thiện. Điều quan trọng nhất là không bao giờ bỏ cuộc và giữ tinh thần lạc quan”. Hãy nhớ, doanh số không bao giờ tăng liên tục cũng chưa hẳn là điều quan trọng nhất. Hãy cố gắng để mỗi khách hàng đến với bạn đều là khách hàng than thiết.
Chia sẻ với các đồng nghiệp về tình hình thực tế
Nếu bạn đang gặp căng thẳng trong công việc thì hãy chia sẻ điều đó với một đồng nghiệp bạn thật sự tin tưởng. Một cuộc nói chuyện thẳng thắn với ai đó thấu hiểu và đồng cảm với tình hình của bạn sẽ giúp xóa đi những cảm xúc tiêu cực. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm và có được nhiều thông tin từ đồng nghiệp để sẵn sàng tiếp tục “cuộc chiến”.
Mở rộng các mối quan hệ
Thay vì dựa vào những khách hàng quen thuộc, hãy nỗ lực mở rộng mạng lưới khách hàng. Trò chuyện với nhiều người khác nhau về việc kinh doanh của bạn, tham dự các buổi hội thảo, để lại địa chỉ liên lạc và thông tin. Hãy tận dụng khả năng giao tiếp và mọi mối quan hệ, bạn không bao giờ đoán được khách hàng mới sẽ đến từ đâu. Đối với doanh nghiệp, không có vấn đề nào quan trọng hơn là tìm kiếm khách hàng. Vì vậy, cho dù bận rộn cách mấy, bạn cũng nên dành thời gian để xây dựng mạng lưới các mối quan hệ.
Cho phép mình nghỉ ngơi
Nếu bạn đã thử tất cả những lời khuyên này và vẫn cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng. hãy dành thời gian để nghỉ ngơi. Khi doanh số không đạt được chỉ tiêu, áp lực lên nhân viên bán hàng là rất lớn và không ai nghĩ đến chuyện nghỉ phép. Tuy nhiên, trong tâm trạng căng thẳng và rối bời đó, dù bạn có tiếp tục làm việc cũng không đạt được hiệu quả. Hãy cho phép bản thân thư giãn và lấy lại năng lượng với kỳ nghĩ cuối tuần không muộn phiền.

Cuộc đối đầu trên thị trường của nước trà xanh

Những ý tưởng hiệu quả nhất luôn bắt đầu từ sự thấu hiểu thị trường một cách sâu sắc nhất. Những ý tưởng đó luôn do người tiêu dùng cung cấp.


Câu chuyện giành lại thị phần nước uống trà xanh của Wonderfarm như một dẫn chứng thực tế về cách thức tạo dựng một thương hiệu thành công cần bắt đầu từ sự thấu hiểu thị trường.
Gia nhập thị trường Việt Nam trong bối cảnh Coca Cola và Pepsi đã định hình vị thế, Wonderfarm - đến từ Malaysia, đã chọn cho mình một phân khúc đối lập - sản phẩm nước giải khát không gas (non-CSD) và đạt được những thành công nhất định.
Không chỉ dừng ở hai sản phẩm Trà Bí đao và nước Yến nhĩ, Wonderfarm tiếp tục tung ra thị trường sản phẩm mới - nước uống trà xanh với thương hiệu Tops vào cuối năm 2006.
Lợi thế cạnh tranh mà Wonderfarm có được cũng không duy trì được bao lâu khi mà Tân Hiệp Phát tung ra sản phẩm trà xanh Không độ vào đầu năm 2007.
Trà xanh Không độ đã nhanh chóng chiếm lĩnh lấy thị trường chỉ sau một thời gian rất ngắn.
Số liệu nghiên cứu thị trường tại thời điểm tháng 6/2007 cho thấy, Không độ đã chiếm hơn 71% thị phần. Trong khi đó, Tops chỉ chiếm khoảng 2% thị phần - một sự sụt giảm nhanh chóng.
Trong bối cảnh ấy, phải làm thế nào để giành lại thị phần? Tháng 7/2007, Wonderfarm đã đề nghị hợp tác cùng Left Brain Connectors nhằm tái định vị lại chiến lược thương hiệu, đặt lại tên sản phẩm, xây dựng chiến lược truyền thông nhằm tung lại sản phẩm trà xanh Tops ra thị trường vào thời điểm ngày 31/12/2007.
Khi nghiên cứu thị trường, rất bất ngờ, Left Brain Connectors đã phát hiện ra một sự thật: tại thời điểm đó toàn bộ thị trường mặc nhiên xem (đánh đồng) Không độ là "trà xanh". Vậy sẽ phải tập trung vào đâu?
Wonderfarm phải chấp nhận một sự thật: về thương hiệu, không có tên gọi nào hay hơn tên Không độ trong ngành nước giải khát. Cho nên, giải pháp đặt tên mới cho thương hiệu không phải là chọn lựa hiệu quả.
Để khắc phục điểm yếu trong hệ thống phân phối, Wonderfarm được đề xuất sử dụng tên gọi Wonderfarm (thương hiệu mẹ đã nổi tiếng và được thị trường chấp nhận với sản phẩm trà Bí đao và nước Yến nhĩ) là thương hiệu chính và sử dụng chính tên gọi Trà xanh (mô tả thuộc tính sản phẩm) như là một thương hiệu phụ (thương hiệu nhánh).
Kết quả nghiên cứu thị trường của công ty AC Neilsen
vào tháng 12/2008 đã cho thấy một con số ấn tượng, sản phẩm Trà xanh Wonderfarm đã tăng 19.2 điểm chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng mà không cần bất cứ một hoạt động quảng cáo nào cả.
Trong tình huống này, Wonderfarm không sở hữu được thương hiệu (tên gọi) Trà xanh, tuy nhiên Wonderfarm sở hữu hình ảnh thiết kế (logo - nhận diện) cho bao bì sản phẩm Trà xanh Wonderfarm. Một chiến lược truyền thông hoành tráng đã được tính tới khi tung sản phẩm ra.
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu sản phẩm (blind test) được tiến hành trên nhóm khách hàng mục tiêu đã đưa ra kết quả khá thất vọng. Wonderfarm chỉ được chấm 3.2 điểm so với 4.8 điểm mà khách hàng chấm cho Không độ.
Toàn bộ chương trình tung sản phẩm được đề nghị dừng lại để nghiên cứu và nâng cao chất lượng sản phẩm lên hơn nữa. Không có cách nào "giết chết" một thương hiệu nhanh bằng việc tạo nên một hình ảnh thương hiệu đẹp đẽ bao bọc một sản phẩm kém chất lượng.
Sau hơn 8 tháng nghiên cứu phát triển, điểm sản phẩm được nâng lên 4.5. Thời điểm không còn phù hợp cho việc tung sản phẩm một cách hoành tráng nữa, Left Brain Connectors đã đề nghị chỉ sử dụng chiến thuật tiếp thị thông qua kênh bán hàng (trực tiếp) và không sử dụng các hoạt động truyền thông đại chúng (ATL) nữa. Cuối cùng, tháng 8/2008, sản phẩm cũng xuất hiện trên thị trường.
Những ý tưởng hiệu quả nhất luôn bắt đầu từ sự thấu hiểu thị trường một cách sâu sắc nhất. Những ý tưởng đó luôn do người tiêu dùng cung cấp.
Các nhà tiếp thị nếu thực sự thấu hiểu thị trường sẽ có những ý tưởng xuất sắc hợp lý để thỏa mãn khách hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Marketing xã hội chưa bao giờ được coi là lỗi thời


Chương trình khuyến học Đèn đom đóm của Dutch Lady hướng tới việc tất cả trẻ em đều được đến trường, trong chương trình họ không hề có một thông điệp quảng cáo nào về mình thế nhưng chương trình đã làm thương hiệu Dutch Lady luôn ở trong tâm trí người tiêu dùng.


Khi marketing đã trở thành một công cụ trợ giúp đắc lực cho việc bán hàng thì rất nhiều phương tiện truyền thông quảng cáo đã liên tục ra đời để phục vụ cho mục tiêu của marketing nhưng hình như việc sử dụng quá nhiều một vài công cụ marketing đã làm người tiêu dùng luôn nghi ngờ mọi thứ đến với họ đều mang tính chất quảng cáo, do đó sẽ bị từ chối khỏi tâm trí khách hàng ngay tức khắc làm giảm hiệu quả của marketing rất nhiều.

Marketing xã hội trở thành một tuyệt chiêu của các nhiều công ty, họ đã tìm cách lồng thông điệp của mình thông qua một công việc có ích cho xã hội.
Trong khi đó những vấn đề lớn của xã hội như: bạo lực học đường, ô nhiễm môi trường, sức khỏe và bệnh tật….không cần ai giới thiệu mời chào mọi người cũng tự giác tìm hiểu. Chính yếu tố này đã làm cho marketing xã hội trở thành một tuyệt chiêu của các nhiều công ty, họ đã tìm cách lồng thông điệp của mình thông qua một công việc có ích cho xã hội. Sau đây là một vài yếu tố nên biết khi sử dụng công cụ này:
1. Nắm bắt xu hướng: Để thực hiện một chiến dịch marketing xã hội cần phải có một vấn đề xã hội được đề cập tới và đương nhiên những vấn đề xã hội nóng hổi được nhiều người quan tâm luôn là đề tài được lựa chọn, mỗimột thời điểm khác nhau thì vấn đề xã hội gây được chú ý lại khác nhau vì vậy nếu sử dụng những hình thức lỗi thời như cấm đoán(cấm đổ rác), ép buộc(đội nón bảo hiểm), dọa nạt(hình ảnh nguy hiểm từ những tệ nạn xã hội) đã ít có tác dụng.
Xu hướng nổi lên bây giờ là truyền thông thân thiện, hướng tới những điều tốt đẹp như bảo vệ quyền lợi trẻ em, chống bạo lực học đường, bảo vệ thành phố xanh sạch...Một ví dụ điển hình về việc nắm bắt xu hướng phải nói đến chương trình marketing xã hội của DKT International với sản phẩm bao cao su OK cùng khẩu hiệu "nhà vô địch". Họ đã thành công vì khi đó vấn đề phòng chống HIV và kế hoạch hóa gia đình đang nổi trội khắp nơi đều thấy biển hiệu bảng treo về đề tài này
2. Thông điệp: Marketing xã hội tác động đến hành vi ứng xử của xã hội nó không mang lại lợi nhuận cho marketer nhưng mang lại lợi ích cho xã hội và khách hàng mục tiêu vì vậy khi làm marketing xã hội thì chúng ta chỉ đứng ra là người đồng hành cùng chiến dịch đó và khách hàng sẽ tự động nhận biết, nếu mang thông điệp quảng cáo đi kèm sẽ làm giảm giá trị của chiến dịch đi rất nhiều. Các chuyên gia nhận định rằng chỉ nên dùng những thông điệp thực sự có ý nghĩa sâu sắc hoặc hài hước.
Chương trình khuyến học Đèn đom đóm của Dutch Lady hướng tới việc tất cả trẻ em đều được đến trường, trong chương trình họ không hề có một thông điệp quảng cáo nào về mình thế nhưng chương trình đã làm thương hiệu Dutch Lady luôn ở trong tâm trí người tiêu dùng.
3. Đối tác: Với chương trình marketing xã hội đối tác là vô cùng quan trọng tác động lớn đến tầm ảnh hưởng của chiến dịch vì một vấn đề xã hội luôn có 1 tổ chức hoặc nhiều tổ chức xã hội đứng ra phụ trách. Chắc chắn tên của bạn sẽ ảnh hưởng lớn hơn tới người tiêu dùng nếu bạn đồng hành cùng hội bảo vệ thiên nhiên, môi trường hay hội y tế công đồng...Lời khuyên cho bạn đó là cố gắng mời nhiều đối tác xã hội cùng tham gia chương trình điều này sẽ làm tăng hiệu quả quảng bá lên rất nhiều lần.

Cảm xúc của các doanh nghiệp

Và số người này đếm trên đầu ngón tay. Nếu bản thân người xây dựng bản đánh giá vẫn còn những biểu hiện của việc mất tự chủ cảm xúc với người thân hay chưa quản lý được những may rủi đến với cuộc đời mình thì chứng tỏ họ chưa đạt đến đỉnh cao của EQ. Như vậy họ sẽ đánh giá sai EQ của người khác.


Có nhiều nghiên cứu về khả năng của con người và đã kết luận: trong các lĩnh vực cá nhân và xã hội của con người thì trí tuệ xúc cảm (EQ) là yếu tố quyết định đến 75% sự thành công. Việc hiểu và đánh giá đúng EQ là vấn đề quan trọng trong công tác nhân sự và lãnh đạo hiện nay.
EQ: Xúc cảm thành năng lực
EQ là viết tắt của cụm từ “Emotional Quotient” - chỉ số cảm xúc. Có nhiều cách nhiều khác nhau về EQ, và có thể nói nôm na EQ là năng lực quản lý cảm xúc giúp chúng ta đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, cải thiện các mối quan hệ với mọi người xung quanh.
Các chuyên gia tâm lý học Mỹ đã nghiên cứu và đúc kết 5 yếu tố cấu thành năng lực EQ: năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự điều chỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội.
Trong thời đại mà chất lượng chăm sóc khách hàng và trách nhiệm xã hội trở thành yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp, EQ rất cần được nhìn nhận và đánh giá với đúng nghĩa của nó.
Thêm một thực tế khiến khả năng trí tuệ xúc cảm trở nên quan trọng hơn là: khi các tổ chức bị thu nhỏ lại bởi làn sóng giảm quy mô thì những người được giữ lại phải có tinh thần trách nhiệm hơn, có những cải thiện trong công việc hơn.
Càng ngày chúng ta càng tập trung vào chất lượng nhân sự hơn là số lượng. Theo Daniel Goleman, kết quả so sánh giữa người điều hành thành công nhất với người thất bại cho thấy: những giám đốc bị thất bại đều là những người có chỉ số IQ và trình độ chuyên môn cao.
Trong hầu hết các trường hợp, điểm yếu không thể khắc phục được của họ đều thuộc phạm trù trí tuệ xúc cảm. Kinh nghiệm không quan trọng bằng khả năng thích ứng với con người và môi trường, việc phát triển trí tuệ cảm xúc là một con đường đúng đắn cho ai muốn phát triển năng lực lãnh đạo.
Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đánh giá sai năng lực trí tuệ cảm xúc của bản thân, hoặc trong những trường hợp lựa chọn những nhân sự chủ chốt? Nếu đánh giá sai thì chúng ta có thể có được kế hoạch phát triển bản thân đúng đắn hay không?
Những lỗ hổng mong manh
Hiện nay, cách đo lường chỉ số EQ được áp dụng phổ biến hiện nay là qua các bài trắc nghiệm và một số trải nghiệm thực tế. Với hình thức trắc nghiệm, chưa bàn đến cơ sở của việc xây dựng hệ thống câu hỏi, về mặt logic ta thấy rằng, kết quả đánh giá chỉ chuẩn xác khi thỏa mãn được 2 tiêu chí: Người tham gia đánh giá trả lời đúng suy nghĩ thật của mình và người tham gia đánh giá hiểu đúng về mình.
Tuy nhiên, người Việt Nam thường có xu hướng hay “tô hồng” năng lực của mình lên một cách có ý thức hoặc vô thức. Xu hướng này xuất phát từ thói quen “sống/nói sao cho vừa ý người khác” và “lựa chọn những phương án mình cho là tốt nhất, hơn là lựa chọn phương án đúng với mình nhất”.
Chưa kể là có các ứng viên thông minh và muốn qua mặt người đánh giá, họ có thể dễ dàng vượt qua các cái bẫy của bài trắc nghiệm. Và cho dù, người đánh giá có phát hiện ra sự gian dối này thì cũng chỉ dừng lại ở việc biết người đó gian dối, chứ khó mà biết chính xác năng lực của họ như thế nào.
Thêm vào đó, rất ít người có năng lực hiểu rõ về bản thân, nên mới có trường hợp “có lúc không biết mình là ai? Sinh ra để làm gì? Sau này mình sẽ ra sao?”
Ta thấy rằng, nếu chỉ dựa vào các bài trắc nghiệm EQ của các tổ chức nước ngoài hiện nay để đánh giá chỉ số EQ cho người Việt Nam thì kết quả chắn chắn sai, chỉ là sai ít hay sai nhiều mà thôi. Và với những vị trí chủ chốt, thì tỷ lệ sai sót rất nhỏ cũng có thể là “lỗ nhỏ đắm thuyền” cho tổ chức.
Với việc bổ sung hình thức đánh giá bổ sung qua trải nghiệm thực tế thì đòi hỏi tính chất của các thử thách phải phù hợp với bản chất của EQ và người xây dựng bản đánh giá phải có năng lực thấu hiểu tâm lý con người. Biểu hiện của việc thấu hiểu này là họ có cuộc sống an nhiên tự tại dựa trên sự thấu hiểu bản thân và bản chất thế giới.
Và số người này đếm trên đầu ngón tay. Nếu bản thân người xây dựng bản đánh giá vẫn còn những biểu hiện của việc mất tự chủ cảm xúc với người thân hay chưa quản lý được những may rủi đến với cuộc đời mình thì chứng tỏ họ chưa đạt đến đỉnh cao của EQ. Như vậy họ sẽ đánh giá sai EQ của người khác.
Hậu quả đánh giá sai còn lớn hơn cả việc không đánh giá. vậy trước những thách thức như trên, chúng ta có phải pháp nào để đánh giá đúng chỉ số trí tuệ cảm xúc của một người?

Doanh nghiệp với quản trị khủng hoảng

Giám đốc một công ty đồng tình: “Quản trị khủng hoảng là quản trị công luận, vì vậy làm thế nào để đưa ra nhiều thông tin tốt và chính xác sẽ giúp thương hiệu phục hồi nhanh hơn. Và người tuyên truyền nguồn thông tin tốt nhất là từ chính nhân viên của mình”.


Làm gì để quản lý, phòng chống khủng hoảng truyền thông? Khi đã xảy ra khủng hoảng truyền thông thì phải làm gì để xử lý một cách chặt chẽ và chuyên nghiệp nhằm hạn chế tối đa thiệt hại cho doanh nghiệp? Đó là chủ đề của tọa đàm “PR- Doanh nghiệp với quản trị khủng hoảng” vừa được Hội Nhà Báo Việt Nam và Tạp Chí Người Làm Báo tổ chức vào ngày 10/11.
“Nếu DN có giá trị đúng, báo chí sẽ sẵn sàng ủng hộ, và một trong những giải pháp quản trị khủng hoảng DN hiệu quả, đó là trách nhiệm xã hội của DN đối với cộng đồng...."
Mở đầu buổi tọa đàm, Tiến sĩ truyền thông Trần Ngọc Châu, GĐ kênh truyền hình FBNC dẫn giải: “Trên thực tế, có những sự cố xảy ra và doanh nghiệp hết sức lúng túng do bộ phận PR không chuyên hoặc tính chuyên nghiệp chưa cao. Cũng có thể vì lãnh đạo doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc phải xây dựng một bộ phận chuyên lo cho hoạt động PR của DN mà trong đó có việc phòng chống, xử lý khủng hoảng truyền thông hoặc khôi phục hình ảnh, uy tín cho DN sau những khủng hoảng. Nếu hoạt động truyền thông tốt thì sau những khủng hoảng, DN cũng sẽ thấy lấp ló những cơ hội mới tạo cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu được tốt hơn, uy tín DN được phục hồi và hình ảnh DN sớm được phục hồi và nâng cao”.
Với những kinh nghiệm thực tế và là Phó chủ tịch Tập đoàn tư vấn truyền thông MGA, tiến sĩ Louis X. Cheroutes ( Kip) , Giảng viên Trường Đại học Colorado (Hoa Kỳ) cho biết: ‘Việc quản lý khủng hoảng rất quan trọng vì khủng hoảng diễn ra rất nhanh. Vì vậy, khi xảy ra khủng hoảng phải lên kế hoạch chuẩn bị để truyền thông. Dự báo những câu hỏi quan trọng và đặc biệt làm cho giới truyền thông nhận ra giá trị cốt lõi công ty của mình. Bản thân Ban lãnh đạo công ty phải công khai nhìn nhận vấn đề và sẽ không để tình trạng tương tự xảy ra.
Lấy tình huống cụ thể từ nhà máy Rocky Mountain Arsenal vào năm 2000 khi công ty này gặp khủng hoảng vì hơi độc do nhà máy thải ra, ông Kip đã minh chứng cách xử lý khủng hoảng thành công, ông nói: “Trong tình huống này, nhà máy Rocky đã nhanh chóng thông báo cho báo chí, không giấu sự thật, gặp các chính trị gia để thông tin và cập nhật những chi tiết mới, đồng thời liên tục thông báo cho báo chí biết các chuyên gia đang làm việc tại hiện trường, kết hợp với việc tổ chức họp báo thông tin diễn tiến tình hình và gặp gỡ trao đổi với người dân xung quanh khu vực nhà máy để họ yên tâm”.
Thực tế ở Việt Nam, thời gian qua đã có không ít DN bị khủng hoảng , trong số đó đã có DN xử lý rất tốt, sau đó còn phát triển tốt hơn, mạnh hơn như Ngân hàng ACB, hoặc như trường hợp của White Palace là một tình huống xử lý khủng hoảng khá thành công. Cụ thể, khi đơn vị này đã ký các hợp đồng tổ chức tiệc cưới thì có thông báo đình chỉ hoạt động vì một số thủ tục liên quan đến vấn đề hành chính giấy tờ. Trong tình huống này, Ban gíam đốc White Palace đã nhanh chóng khắc phục sự cố bằng cách vận động các cô dâu chú rể tổ chức đám cưới ngay tại sân vận động gần khu vực của White Palace.
Và để bù vào “tổn thất” của khách hàng, họ chấp nhận tổ chức đám cưới miễn phí với cung cách phục vụ không khác trong khách sạn. Chính việc làm này đã tạo thêm thiện cảm và uy tín của White Palace với khách hàng. Song, ngược với các cách giải quyết khủng hoảng thông minh này, không ít DN lại có cách ứng xử kém dẫn đến hậu quả nặng nề hơn không chỉ về doanh thu, sự phát triển mà còn ảnh hưởng cả uy tín thương hiệu và để lại ấn tượng xấu cho người tiêu dùng như vụ Vedan.
Để sự cố khủng hoảng xảy ra nhanh chóng được giải quyết, Tiến sĩ Kit khuyên các DN nên xây dựng mối quan hệ truyền thông thật tốt trước khi có khủng hoảng. Trong trường hợp xảy ra sự cố, phải nắm tình hình, đừng để giới truyền thông làm chúng ta mất phương hướng. Quan trọng nhất là những con số cung cấp cho báo chí phải đảm bảo đó là con số chính xác, tuyệt đối chỉ cung cấp thông tin khi có thể, đừng đưa ra lời hứa suông, nhất là đừng nói dối sự thật và cũng không nói những điều chúng ta hy vọng. Khi các DN có kế hoạch quản trị khủng hoảng, điều đó sẽ mang lại giá trị cộng thêm rất lớn cho DN”.
Giám đốc một công ty đồng tình: “Quản trị khủng hoảng là quản trị công luận, vì vậy làm thế nào để đưa ra nhiều thông tin tốt và chính xác sẽ giúp thương hiệu phục hồi nhanh hơn. Và người tuyên truyền nguồn thông tin tốt nhất là từ chính nhân viên của mình”.
Ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch kiêm TGĐ công ty Tư vấn Kinh doanh Hội nhập Toàn cầu GIBC, Ủy viên ủy ban xử lý khủng hoảng Pepsico Châu Á Thái Bình Dương cũng khẳng định: “Nếu DN có giá trị đúng, báo chí sẽ sẵn sàng ủng hộ, và một trong những giải pháp quản trị khủng hoảng DN hiệu quả, đó là trách nhiệm xã hội của DN đối với cộng đồng. Ở Mỹ, một thống kê gần đây cho thấy khi khủng hoảng tài chính, khách hàng sẽ ủng hộ những công ty có mối quan tâm và đóng góp trách nhiệm cho xã hội.Vấn đề này không chỉ những công ty lớn mà làm được mà ngay cả các công ty nhỏ cũng vẫn làm tốt. Vấn đề không phải kinh phí mà là tư duy của DN”.