Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Marketing kết hợp truyền thông ảo & thực

Một phần mềm marketing tích hợp sẽ thu thập, tổng hợp toàn bộ thông tin trong suốt chiến dịch marketing. Phần mềm này giúp nâng cao khả năng chăm sóc và quan hệ với khách hàng. Đồng thời, các số liệu thu được đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh chiến lược marketing trong tương lai cũng như đào tạo đội ngũ bán hàng làm việc hiệu quả hơn. Các kênh tiếp thị kỹ thuật số cũng giúp theo dõi hiệu quả của các phương tiện truyền thông truyền thống. Ví dụ: theo dõi việc quét mã QR có thể được xem là thước đo cho hiệu quả của các sản phẩm in ấn.


Sự bùng nổ của các mạng xã hội và thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng… mở ra kỷ nguyên mới cho truyền thông kỹ thuật số. Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông đã có trước đây không vì thế mà chịu lép vế. Google vừa qua đã tung ra quảng cáo trình duyệt Google Chrome trên truyền hình.  
Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy email marketing đang có dấu hiệu hồi sinh trở lại. Sự tồn tại song song của nhiều loại hình truyền thông đòi hỏi các nhà quảng cáo xây dựng các chiến dịch marketing tích hợp, kết nối các phương tiện truyền thông hiện đại và truyền thống lại với nhau nhằm đem lại hiệu quả thông tin cao nhất đến khách hàng. Sau đây là một số công cụ giúp nối liền khoảng cách giữa các phương tiện truyền thông.
Các nhà quảng cáo xây dựng các chiến dịch marketing tích hợp, kết nối các phương tiện truyền thông hiện đại và truyền thống lại với nhau nhằm đem lại hiệu quả thông tin cao nhất đến khách hàng.
Email thông minh (intelligent mail)
Dịch vụ theo dõi email của Dịch vụ Bưu chính Mỹ (The U.S. Postal Service) sẽ thông báo cho nhà quảng cáo biết khi nào email quảng cáo đến được tay người nhận. Khách hàng cũng sẽ nhận được thông báo tóm lược nội dung bằng email hoặc qua tin nhắn trên ĐTDĐ. Những email và tin nhắn này giúp khách hàng biết trước nội dung của những email họ đã nhận từ các nhà quảng cáo một cách súc tích, ngắn gọn.
PURL
Các nhà quảng cáo chỉ có vài giây để thu hút sự chú ý của khách hàng tới email của mình. Sử dụng các đoạn hội thoại mang tính cá nhân hoặc PURLs, là một trong những phương pháp tốt nhất để thu hút sự quan tâm của người nhận.
PURL là một địa chỉ web được cá nhân hóa cho một đối tượng cụ thể nào đó. Nội dung ở các trang web siêu nhỏ dưới các PURL này sẽ được tùy chỉnh dành riêng cho khách truy cập đó. Người sử dụng cũng có thể tùy chọn mức độ chia sẻ thông tin nhiều hay ít tùy ý hoặc nhận thư mời đăng ký bản tin hàng tháng, xem video… Kết nối tới các mạng xã hội, chia sẻ lại các link, video, bài viết là tính năng mà các trang cá nhân cần có để tối ưu hóa trả năng phát tán thông tin.
Mã QR
Một trong những cách hiệu quả nhất thúc đẩy khách hàng tiềm năng ghé thăm trang web của doanh nghiệp là sử sụng mã QR (Quick Response Code). Khách hàng sử dụng điện thoại thông minh có thể dễ dàng truy cập vào website hoặc truy cập các nội dung trực tuyến bằng cách quét mã. Phần mềm giải mã cài đặt trong máy (thường là miễn phí) sẽ ngay lập tức kết nối người sử dụng với các nội dung trực tuyến.
Mobio Identity Systems Inc, một công ty thanh toán ở Mỹ đưa ra số liệu: Chỉ trong 6 tháng cuối năm 2010 - việc sử dụng mã QR đã tăng hơn 1200%. QR giờ đây được in phổ biến trên các trang quảng cáo, nhãn hàng, bảng quảng cáo, áo thun…
Phần mềm phân tích số liệu
Một phần mềm marketing tích hợp sẽ thu thập, tổng hợp toàn bộ thông tin trong suốt chiến dịch marketing. Phần mềm này giúp nâng cao khả năng chăm sóc và quan hệ với khách hàng. Đồng thời, các số liệu thu được đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh chiến lược marketing trong tương lai cũng như đào tạo đội ngũ bán hàng làm việc hiệu quả hơn. Các kênh tiếp thị kỹ thuật số cũng giúp theo dõi hiệu quả của các phương tiện truyền thông truyền thống. Ví dụ: theo dõi việc quét mã QR có thể được xem là thước đo cho hiệu quả của các sản phẩm in ấn.
Sự kết hợp của phương tiện truyền thông truyền thống và kỹ thuật số mang đến cho khách hàng mục tiêu những trải nghiệm mang tính cá nhân. Dù phản hồi của khách hàng ở nhiều độ tuổi khác nhau (người trẻ tuổi, người trung niên) với các chiến dịch marketing tích hợp này sẽ khác nhau. Nhưng trên hết, đa dạng hóa các lựa chọn và kênh tiếp cận làm tăng cả năng thuyết phục người tiêu dùng mua hàng.

Câu chuyện về New Choice Foods

Thứ ba, NCF đã dựa vào một “đại sứ” xử lý khủng hoảng đủ tầm, đủ mạnh, đó là sự có mặt của Phó Cục trưởng Cục vệ sinh an toàn thực phẩm để công nhận chất lượng sản phẩm của NCF không nhiễm DEHP.

Câu chuyện của New Choice Foods
Câu chuyện bắt đầu vào ngày 26/5/2011, khi cơ quan y tế Đài Loan chính thức thông báo Công ty Dục Thân, một công ty phụ gia thực phẩm hàng đầu của Đài Loan, đã đưa chất DEHP - chất phụ gia công nghiệp vào trong phụ gia tạo đục nhằm gian lận, giảm giá thành.
NBC tổ chức họp báo ngay sau sự cố
Từ cảnh báo này, 9.984 thùng rau câu hương vị khoai môn (Taro) của New Choice Foods (NCF) đã bị thu hồi vì nghi ngờ có chất DEHP do nhập nguyên liệu từ Dục Thân.
Ngay sau khi thông tin thạch rau câu NCF bị thu hồi vì nhiễm chất phụ gia độc hại được lan rộng, công ty này đã rơi vào tình trạng ngưng trệ hoạt động. 18 hương vị rau câu khác của NCF dù không bị nhiễm DEHP nhưng cũng bị người tiêu dùng tẩy chay.
Chỉ trong vòng một tháng, công ty này đã thiệt hại hơn 2 tỷ đồng. Nhưng theo thừa nhận Ban lãnh đạo của NCF, thiệt hại lớn nhất là uy tín thương hiệu và hơn 500 nhân viên đang trong tình trạng bế tắc việc làm.
Dù DEHP là sự cố bất ngờ (DEHP không nằm trong chỉ tiêu kiểm tra an toàn thực phẩm, chưa có quy định về giới hạn tối đa trong thực phẩm), nhưng ông Cheng Huang Ming, Giám đốc NCF, xác định:
“Dù thế nào thì New Choice Foods cũng đang đứng trước tình thế bị người tiêu dùng mất niềm tin và cách tốt nhất để lấy lại niềm tin là công khai bày tỏ thái độ cầu thị, nhận khuyết điểm và cam kết đưa ra sản phẩm mới an toàn”.
Vì vậy, ngày 9/7, NCF đã tổ chức cuộc họp báo và đích thân ông Cheng Huang Ming đã có lời xin lỗi đến người tiêu dùng và nhà phân phối vì sự cố đáng tiếc.
Thái độ tích cực, cầu thị của NCF còn được thể hiện qua việc trước đó, ngay khi xảy ra sự cố, dù chưa có thông báo của cơ quan chức năng, công ty đã tự thu hồi sản phẩm Taro, đồng thời cùng với Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm tái kiểm nghiệm 18 sản phẩm khác.
Bài học quản trị mà NCF chân thành chia sẻ là: “Trong sản xuất, kinh doanh, mọi nỗ lực đầu tư sẽ trở nên vô giá trị nếu doanh nghiệp lơi lỏng, dù chỉ một khâu nhỏ trong chuỗi vận hành sản xuất.
Cụ thể bài học của NCF là việc quản lý nguồn nguyên liệu đầu vào chưa nghiêm ngặt đã khiến công sức xây dựng thương hiệu trong nhiều năm bị suy sụp trong phút chốc”.
Theo đánh giá của các chuyên gia tư vấn thương hiệu, cách giải quyết khủng hoảng của NCF là hiệu quả. Thứ nhất, NCF đã đảm bảo nguyên tắc giải quyết khủng hoảng càng nhanh càng tốt.
Thực tế, vụ Knorr “tự nhiên hơn bột ngọt” đã bị “to chuyện” và đánh mất lòng tin người tiêu dùng chỉ vì Công ty Unilever có cách xử lý thiếu nhanh chóng và quyết liệt ngay từ đầu.
Thứ hai, theo kinh nghiệm xử lý khủng hoảng, cách đơn giản và ít tốn kém nhất là tổ chức một cuộc họp báo công khai để giải thích, giải tỏa thắc mắc của công chúng. Điều này giúp DN có thêm uy tín nếu DN đúng.
Thứ ba, NCF đã dựa vào một “đại sứ” xử lý khủng hoảng đủ tầm, đủ mạnh, đó là sự có mặt của Phó Cục trưởng Cục vệ sinh an toàn thực phẩm để công nhận chất lượng sản phẩm của NCF không nhiễm DEHP.
Thực tế, cách ứng phó này cũng đã mang lại thành công cho ngân hàng ACB trong đợt khủng hoảng cách đây 6 năm. Lúc đó, ACB đã nhờ ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xuất hiện, đảm bảo sự an toàn khi gửi tiền ở ACB, nên đã nhanh chóng lấy lại niềm tin nơi khách hàng. 

Khi cần, phải biết nói chữ “không” với khách hàng

Ngoài ra, chúng còn giúp thương hiệu tạo ra một đội ngũ nhân sự đồng lòng, luôn tự hào về thương hiệu, có cùng mục tiêu và sự nhất quán trong suy nghĩ cũng như hành động.Khi cần, phải biết nói “không” với khách hàng

Facebook đã và đang là mạng xã hội lớn nhất thế giới, vì vậy, mỗi sự thay đổi (tăng tiện ích, siết chặt chính sách với người dùng…) đều dẫn đến sự “rúng động” nhất định cho cộng đồng mạng.
Gần đây nhất, trung tuần tháng 11 vừa qua, trang mạng này thay đổi chính sách, tuyên chiến với những thông tin giả mạo được đăng tải và ghi nhận hằng ngày bởi hàng tỉ người dùng trên Facebook.

Quyết định ấy được xem là khá tương đồng với một gã khổng lồ công nghệ khác là Google. Trả lời phỏng vấn của Reuters, phát ngôn viên của Google khẳng định “Chúng tôi sẽ ngừng phục vụ dịch vụ quảng cáo tới tất cả các trang website mạo danh, đưa thông tin giả, thông tin lừa đảo, có ảnh hưởng tiêu cực tới các tài sản trí tuệ trực tuyến”.

Sự cứng rắn của Facebook hay Google khiến chúng ta không khỏi đặt ra câu hỏi, tại sao những ông lớn công nghệ, đã kiếm được hàng tỉ USD mỗi năm từ việc bán quảng cáo cho người dùng, luôn khuyến khích họ đăng tải và cập nhật nội dung, nay từ chối bán quảng cáo, thậm chí còn lên án, bó buộc, “làm khó” khách hàng của mình?

Nói “không” để bảo vệ giá trị thương hiệu
Theo trang Vox.com, tin giả đã được giới chức trách ở Mỹ cảnh báo sẽ trở thành vấn đề của thế giới ảo từ những năm 2000. Lý do là việc tạo ra tin giả khá dễ dàng.
Ở nước ta, chỉ cần mấy trăm ngàn cho đến vài triệu đồng cùng với một tấm thẻ tín dụng không cần chứng minh chủ sở hữu, bất cứ ai cũng có thể mua được một website cùng với một tên miền để đăng tất cả những thông tin khác nhau mà chẳng một cơ quan, tổ chức nào có thể kiểm tra hết.

Mark Zuckerberg, ông chủ của Facebook hiểu rất rõ điều này, nên đã xây dựng mạng xã hội này với triết lý khá rõ ràng ngay từ đầu: “Trong nội dung trên Facebook, hơn 99% những gì mọi người thấy là thực. Chỉ có một số rất nhỏ là tin tức sai và lừa đảo”.
Cần phải nói thêm là Facebook và Google từ lâu đã tuyên chiến với những nội dung thiếu lành mạnh trên internet, nói không với những khách hàng phát tán nội dung mang tính bạo lực, đồi trụy hay vi phạm bản quyền…
Ví dụ dễ thấy nhất là ở Facebook, nếu một fanpage hay một tài khoản liên tục đăng những thông tin bị nhiều người báo cáo lại là có nội dung đồi trụy, nội dung vi phạm bản quyền… thì người dùng đó sẽ bị Facebook phạt cảnh cáo, bằng cách khóa tài khoản, khóa các chức năng như like, comment, share, chat… tạm thời trong vài ngày và nếu còn tái phạm, tài khoản đó sẽ bị khóa vĩnh viễn.

Chính nhờ những trang mạng xã hội hàng đầu tỏ ra quyết liệt với sai phạm của khách hàng mà trong một khảo sát gần đây của 2 công ty Pew Research Center và Knight Foundation, có đến 62% người trưởng thành ở Mỹ cho biết họ xem các trang mạng xã hội như Facebook, Reddit, Twitter… là nơi cung cấp thông tin chủ yếu mỗi ngày.

Thế nhưng, 1% còn lại của những tin tức thiếu chính xác và sai sự thật, vẫn khiến Facebook và phần nào là Google đối mặt với vô số lời chỉ trích, nên cả hai buộc phải đưa ra quyết định cứng rắn hơn, đó là cương quyết từ chối những khách hàng vi phạm.

Cụ thể, theo ghi nhận của tờ New York Times, Facebook phải chịu sự phản ứng dữ dội từ người dân Mỹ ngay sau cuộc bầu cử tổng thống (ngày 8/11/2016) kết thúc. Nhiều người đổ tội cho Facebook đã gây ảnh hưởng đến kết quả bầu cử, bởi trong thời gian tranh cử của các ứng viên, rất nhiều thông tin được cho là vô căn cứ liên tục được đăng tải lên Facebook.
Những tin kiểu như người nổi tiếng này ủng hộ ứng viên kia được lan truyền trên Facebook, sau đó được nhiều trang báo mạng đăng lại mà không hề kiểm chứng, và Facebook cũng không có động thái nào ngăn chặn việc này.
Song song đó, còn có nhiều thông tin sai lệch về ứng viên, bị các trang báo mạng khai thác, rồi được người ta mua quảng cáo của Google để cho những tin này liên tục xuất hiện ở những vị trí đầu tiên trên kết quả tìm kiếm. Tất cả khiến cho nhiều người có cái nhìn không chính xác về vấn đề của các ứng viên…

Đến đây, chúng ta lại tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra nếu Facebook ngay từ đầu đã nói “không” với những vi phạm của khách hàng? Có lẽ, Facebook hay Google sẽ khó thể tạo ra cho mình một mạng lưới khách hàng đông đảo như ngày nay.
Vậy nên, câu trả lời cho cả hai vấn đề “trước cho, nay cấm” nằm ở tính thời điểm: khi cần thiết, thương hiệu phải biết nói không với khách hàng.

Là cách tạo dựng lòng tin và tạo sự khác biệt

Để có thể nói không với khách hàng, thương hiệu cần một lý do và sự tự tin rất lớn. Thường các thương hiệu chỉ mạnh dạn nói “không” nếu họ tự tin với tầm nhìn, sứ mạng và những giá trị cốt lõi của họ.
Việc từ chối khách hàng, nói không với những điều sai trái, đi ngược lại sự quan tâm, giá trị cũng như quan điểm của thương hiệu, trước mắt có thể khiến thương hiệu mất đi một nguồn tạo ra lợi nhuận, nhưng về lâu dài sẽ giúp thương hiệu chiếm được cảm tình của khách hàng, tạo cho họ niềm tin vào những giá trị mà thương hiệu theo đuổi.
Ngoài ra, chúng còn giúp thương hiệu tạo ra một đội ngũ nhân sự đồng lòng, luôn tự hào về thương hiệu, có cùng mục tiêu và sự nhất quán trong suy nghĩ cũng như hành động.

Marvin Bower, cựu giám đốc điều hành của hãng tư vấn nổi tiếng McKinsey, người được mệnh danh là “cha đẻ của nghề tư vấn”, cho biết hãng sẵn sàng hủy bỏ kế hoạch làm việc với bất kỳ khách hàng nào nếu họ phát hiện khách hàng đưa ra những con số sai lệch thực tế hoặc thiếu sự minh bạch trong đường lối, chính sách. Dù việc chấp nhận cộng tác với những khách hàng đó có thể mang lại cho McKinsey lợi nhuận cao và giúp hãng tạo được lợi thế lớn so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành.

IR và giá trị của doanh nghiệp


Ông Lương Quang Hiển chia sẻ: “Tại Kinh Đô, người làm IR thường phải tiếp xúc với các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp, nên nhà IR giỏi trước tiên phải có kiến thức trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và tài chính. Kế đó, phải thiết lập được chiến lược và quy trình IR cho công ty, đặc biệt là hoạch định sẵn các giải pháp IR nếu công ty rơi vào hoàn cảnh khó khăn”.

Thị trường chứng khoán Việt Nam không lạ lẫm với những câu chuyện doanh nghiệp niêm yết công bố sai lệch kết quả kinh doanh, và khi nhà đầu tư biết điều này thì giá cổ phiếu đi xuống.
IR tốt sẽ giúp doanh nghiệp giữ chân cổ đông hiện hữu và thu hút thêm cổ đông mới
Đó là một ví dụ về công tác quan hệ với nhà đầu tư (Investor Relations - IR) kém, gây ảnh hưởng xấu đến giá trị doanh nghiệp. Vậy, vai trò thực sự của IR trong doanh nghiệp là gì? Và ở thời điểm thị trường chứng khoán đang “ảm đạm” như hiện nay, có cần thiết phải chú trọng IR không?
Công cụ tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp
Không giống như PR (quan hệ công chúng), IR chưa phải là thuật ngữ phổ biến tại Việt Nam. Nhưng trên thế giới, khi thị trường chứng khoán có tuổi tính bằng con số trăm, IR là khái niệm rất phổ biến.
TS. Matthew Hibberd, Giám đốc chương trình cao học “Quản trị truyền thông” của Đại học Stirling (Anh) tại TP.HCM cho biết: “Khi hệ thống tín dụng quốc tế ngày một phát triển, các luật lệ, quy định về tài chính toàn cầu ngày càng tương đồng, thì hoạt động IR đang trở thành “sống còn” đối với doanh nghiệp”.
Ông cho rằng, “công ty cần phải xây dựng một bộ phận IR đúng nghĩa để giữ chân cổ đông hiện hữu và thu hút thêm nhiều cổ đông mới”. Trên thực tế, IR tốt có thể giúp giá cổ phiếu không thấp hơn giá trị doanh nghiệp, hay giúp công ty huy động vốn dễ dàng hơn
khi cần thiết.
Ông Lương Quang Hiển, Phó tổng giám đốc tài chính Công ty cổ phần Kinh Đô (mã cổ phiếu KDC, giá trị vốn hóa hơn 4.000 tỷ đồng) chia sẻ: “IR là một hoạt động không thể thiếu tại Kinh Đô. Việc niêm yết năm 2005, phát hành cổ phiếu thành công năm 2007, hoặc việc sáp nhập NKD và KIDO vào KDC không thể thiếu vai trò của IR”.
Như vậy, IR phải thật sự chủ động và cần được xem là một trong những công cụ chính để tối ưu hóa giá trị của công ty. Điều này khác với IR truyền thống trước đây chú trọng thuần túy đến việc cung cấp thông tin ra đại chúng, như cung cấp báo cáo thường niên, thông tin tài chính và kinh doanh, thông tin đại hội cổ đông...
IR truyền thống khá “thụ động”, nhắm vào việc phân tích cổ đông, theo dõi phản ứng thị trường, thu thập thông tin phản hồi...
Thời khủng hoảng càng cần IR
Có ý kiến cho rằng, thời khủng hoảng, cổ phiếu nào cũng “rớt giá” trong một thị trường chứng khoán Việt Nam “èo uột”, nên không cần chú trọng đến IR. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hồng Mai, Giám đốc truyền thông Công ty Vietstock (chuyên tư vấn về IR) nhận định: “Sự lên xuống của thị trường là hoàn toàn bình thường.
Chính trong những giai đoạn khủng hoảng này, doanh nghiệp nào biết làm IR tốt sẽ có khả năng tạo cho mình lợi thế vượt trội để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp”. Bà cho rằng, “Doanh nghiệp không chỉ cần vốn vào thời điểm này mà cả trong tương lai.
Thị trường có thể biến chuyển bất kỳ lúc nào, vì vậy lúc thị trường không sôi động là thời điểm thích hợp để doanh nghiệp hoàn thiện chiến lược và hoạt động IR.
Doanh nghiệp có thể tạo sự khác biệt và chứng minh được giá trị của mình qua việc làm IR tốt. Có thể thấy rõ điều này khi các mã chứng khoán giảm giá không đáng kể đều là những công ty có bộ phận IR hoạt động khá tích cực và chuyên nghiệp”.
Bên cạnh đó, làm IR không có nghĩa là “giấu nhẹm” mọi tin tức bất lợi để làm hài lòng cổ đông. Ông Võ Đắc Khôi, Giám đốc kế hoạch Công ty Xây dựng Hòa Bình (mã cổ phiếu HBC) cho biết: “Đối với các thông tin tiêu cực, công ty vẫn chủ động cung cấp cho cổ đông theo đúng quy định của Ủy ban Chứng khoán và Sở Giao dịch chứng khoán.
Ngoài ra, công ty còn chủ động cung cấp thêm thông tin về các phương án giải quyết khó khăn, các phân tích, nhận định tích cực về triển vọng trong tương lai”.
Ông dẫn chứng: “Năm 2008, giá vật tư tăng vọt nên HĐQT và Ban giám đốc phải chuyển nhượng dự án Hòa Bình Tower ở khu Phú Mỹ Hưng, để cắt lỗ và chuyển tiền mặt vào các dự án xây lắp lớn do HBC làm thầu chính.
HBC hạch toán lỗ trong việc bán dự án này, nhưng sự giải thích rõ lý do và phân tích những mặt tích cực mang lại cho công ty về sau đã làm cổ đông yên lòng”. Sau đó, kết quả kinh doanh của HBC có nhiều chuyển biến tích cực.
Và, liên tiếp hai đại hội cổ đông thường niên năm tài chính 2009 và 2010, tỷ lệ bỏ phiếu đối với các vấn đề trong tờ trình của HĐQT đều đạt đồng thuận tuyệt đối 100%.Tổ chức bộ phận IR thế nào?
IR là một bộ phận của truyền thông doanh nghiệp, bên cạnh truyên thông nhãn hiệu, quan hệ công chúng, truyền thông nội bộ... Vì còn mới mẻ nên IR thường chưa được các doanh nghiệp Việt Nam thiết lập như một bộ phận độc lập. Nhiều công ty đặt bộ phận IR vào
trong phòng marketing với lý luận là IR là xây dựng thương hiệu với nhà đầu tư.
Bà Nguyễn Thị Hồng Mai nhận định: “Đối với phương pháp tiếp cận IR mới, IR phải là một bộ phận độc lập và chịu sự quản lý trực tiếp của CEO (Giám đốc điều hành) hoặc CFO (Giám đốc tài chính).
Phụ trách IR là người phát ngôn, xử lý tình huống, tư vấn cho CEO hay CFO làm thế nào để đưa thông tin mình cần truyền tải ra công chúng một cách hiệu quả nhất”.
Trên thị trường chứng khoán, công ty niêm yết có trách nhiệm cung cấp thông tin ra đại chúng theo quy định công bố thông tin của pháp luật, và Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm cao nhất trong việc này.
Tuy nhiên, ở Công ty Kinh Đô, việc công bố thông tin được ủy quyền cho tổng giám đốc. IR là một chức năng trực thuộc phòng Tài chính chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp với các phòng ban khác chuẩn bị thông tin cung cấp cho nhà đầu tư.
Ông Lương Quang Hiển cho rằng, “Đối với một công ty niêm yết, thông tin nhanh chóng, đầy đủ và minh bạch là điều quan trọng nhất. Bên cạnh các kênh thông tin chính thống như truyền thông, báo chí, internet..., việc tiếp xúc riêng với các nhà đầu tư cũng giúp trao đổi thông tin cụ thể, tập trung và sâu sắc hơn. Vì từng nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức, trong nước hoặc nước ngoài) có các mục tiêu và chiến lược đầu tư khác nhau”.
Ông cũng nhận định: “Để hoạt động IR được hiệu quả, bên cạnh các yếu tố nội lực, cần phải phối hợp với các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, các công ty chứng khoán và các cơ quan truyền thông báo chí”.
Ông Võ Đắc Khôi cho biết: “Ngoài công bố thông tin theo đúng quy định của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, HBC rất chú trọng đến truyền tải thông tin trên trang web của công ty và các báo, đặc biệt là báo mạng. Quan hệ tốt, cung cấp thông tin nhanh chóng cho bộ phận phân tích và môi giới của các công ty chứng khoán là một kênh tốt để HBC tiếp cận nhà đầu tư”.
Ông cho rằng, “muốn làm IR thành công, cần có một chiến lược truyền thông hiệu quả để chuyển tải thông điệp truyền thông đến đúng đối tượng nhà đầu tư được nhắm đến.
Thiếu một chiến lược truyền thông hiệu quả, hoạt động IR có thể bị hiểu nhầm, gây tác dụng ngược đối với nỗ lực của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn cổ đông”. Cuối cùng, nhân sự cho bộ phận IR cũng là chuyện phải cân nhắc.
Ông Lương Quang Hiển chia sẻ: “Tại Kinh Đô, người làm IR thường phải tiếp xúc với các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp, nên nhà IR giỏi trước tiên phải có kiến thức trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và tài chính. Kế đó, phải thiết lập được chiến lược và quy trình IR cho công ty, đặc biệt là hoạch định sẵn các giải pháp IR nếu công ty rơi vào hoàn cảnh khó khăn”.
Bà Nguyễn Thị Hồng Mai đúc kết: “Người làm IR không chỉ am hiểu về truyền thông, marketing cho sản phẩm đặc thù của doanh nghiệp, mà còn phải am hiểu về thị trường tài chính - chứng khoán để có khả năng ứng phó với nhà đầu tư”.

Cách quảng bá sản phẩm mới

Ban đầu, mền Snuggie chỉ có ba màu sắc nhưng hàng loạt các mẫu tiếp theo được thiết kế dựa trên ý tưởng của người tiêu dùng và các fan của Snuggie trên Facebook. Khách hàng đem lại sức sống cho thương hiệu. Luôn kết nối với khách hàng, giao tiếp và hợp tác là chiến lực để xây dựng thương hiệu vững mạnh trong tương lai. Roomba đã đẩy mạnh dịch vụ khách hàng ngay từ đầu để đảm bảo khách hàng có thể sử dụng sản phẩm trong tình trạng tốt nhất và luôn nhận được hỗ trợ kỹ thuật bất kỳ lúc nào.


Snuggie là tên của một sản phẩm kỳ lạ- một loại mền có… ống tay. Thoạt nghe thì ý tưởng này có vẻ kỳ cục, nhưng rốt cuộc nó đánh trúng nhu cầu của người tiêu dùng. Trong thời tiết lạnh giá của Bắc Mỹ, bạn có vừa quấn chăn kín mít từ đầu tới chân vừa rảnh tay làm mọi việc mình thích như đọc sách, chơi cờ, chơi game hay... ăn bắp rang. Chỉ sau 4 tháng tung ra thị trường, Snuggie đã bán được hơn 4 triệu chiếc tại Mỹ.
Những mẫu quảng cáo hài hước, sự kỳ lạ và tiện dụng của sản phẩm được lan truyền trên internet khiến Snuggie trở nên nổi tiếng và được khách hàng Mỹ ưa chuộng. Ra đời năm 200, tính đến nay, hơn 25 triệu chiếc mền Snuggie đã được tiêu thụ. Snuggie là thành công tiêu biểu cho việc chinh phục thị trường bằng sản phẩm mới độc đáo. Đưa một sản phẩm mới ra thị trường đã khó, tạo lập một thị trường tiêu thụ chưa hề tồn tại còn khó gấp nhiều lần. Để thành công đòi hỏi nhà sản xuất phải sáng tạo, thức thời, có tầm nhìn và một chút liều lĩnh. Sau đây là bốn bước để tìm kiếm và thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm mới.
1. Định hướng tính cách sản phẩm và nhu cầu nơi công chúng
Snuggie là tên của một sản phẩm kỳ lạ- một loại mền có… ống tay. Thoạt nghe thì ý tưởng này có vẻ kỳ cục, nhưng rốt cuộc nó đánh trúng nhu cầu của người tiêu dùng.
Xác định tính cách sản phẩm và khơi dậy các nhu cầu là việc cần thiết giúp khách hàng nhận diện được sản phẩm.
Allstar Products-công ty sản xụất Snuggie đã định hướng tính cách cho Snuggie ngay từ bằng một cái tên kỳ lạ và hàng loạt các quảng cáo hài hước. Hình ảnh của Snuggie được người tiêu dùng biết đến như một sản phẩm đem lại niềm vui cho gia đình, bạn bè. Yếu tố này được đề cao hơn so với công dụng của nó. Đại diện Allstar cho biết: “ Chúng tôi chỉ cho khách hàng thấy các nhu cầu mà họ chưa nhận ra và cung cấp giải pháp tuyệt vời để giải quyết nhu cầu đó”.
Để làm cho sản phẩm mới trở nên thiết yếu đối với người tiêu dùng, sản phẩm phải thực sự phục vụ một mục đích cụ thể trong đời sống và nhà sản xuất phải chỉ rõ cho khách hàng thấy đựơc vai trò, mục đích cụ thể của sản phẩm. Xác định mục tiêu sản phẩm sẽ tùy thuộc vào chức năng của từng sản phẩm. Như trường hợp của Allstar, phương châm của mọi sản phẩm lcông này sản xuất à giải quyết những bất tiện trong cuộc sống thường ngày bằng những ý tưởng mới.
Một sản phẩm khác cũng có cùng phương châm phát triển là Topsy Turvy. Bộ sản phẩm này cho phép người sử dụng trồng cà chua bằng cách “treo ngược” chậu cây. Sản phẩm vừa giúp tiết kiệm diện tích trồng trọt vừa là món đồ trang trí. Vapur-một công ty sản xuất chai nhựa tái sinh lại định vị tính cách sản phẩm đảm bảo cả hai mục tiêu: tiện dụng và thay đổi thói quen của người dùng. Nhà sáng lập Vapur nói:” Nhu cầu sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường là có thực và cả thế giới đều tập trung tìm giải pháp tái chế nhựa. Chúng tôi có giải pháp hiệu quả và muốn thay đổi ý thức của người tiêu dùng”.
2. Tập trung mô tả công dụng và tính năng sản phẩm
Một khi bạn xác định được vai trò của sản phẩm, bước tiếp theo là giới thiệu ra công chúng. Làm thế nào để mọi người gọi đúng tên sản phẩm? Đặt tên ra sao để phân biệt với các sản phẩm khác ? Sản phẩm này dùng vào việc gì? Tất cả các yếu tố này phải đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch marketing.
Để giúp người tiêu dùng sáng tạo công dụng khác nhau cho Kickstater - sản phẩm chân đế dành cho smartphone, hãng Oona đã tung ra một clip quảng cáo chỉ dẫn cách sử dụng sản phẩm này cho nhiều mục đích khác nhau.
Tìm được từ ngữ chính xác, phương tiện thích hợp để mô tả sản phẩm mới và truyền đạt đến người tiêu dùng là một quá trình rất gian nan. Xây dựng hiểu biết cho người tiêu dùng từ con số không đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và là giai đoạn không thể bỏ qua trong quá trình giới thiệu sản phẩm. Bình nước Vapur đã chọn cho mình từ “anti-bottle” để mô tả sản phẩm. Tên gọi này giúp khách hàng dễ dàng phân biệt sự khác biệt của Vapur với tất cả các sản phẩm bình đựng nước khác.
Đôi khi định vị công dụng sản chưa chưa được hình thành ngay từ đầu mà phải trải qua một thời gian được khách hàng sử dụng và đánh giá. Roomba- Robot hút bụi tự động lúc đầu chỉ được gọi là máy hút bụi tự động. Tuy nhiên, sau khi tung ra thị trường và nhận được những ý kiến, phản hồi từ khách hàng, tên gọi robot giúp Roomba định vị lại thương hiệu và sản phẩm như một robot chứ không đơn thuần là một chiếc máy hút bụi.
3. Chứng minh sản phẩm, dịch vụ thực sự hữu ích
Truyền thông không chỉ giúp Roomba định vị lại thương hiệu mà còn giúp công ty iRobot vượt qua sự hoài nghi của khách hàng về công dụng sản phẩm. Chính thông tin hiệu quả đã giúp Roomba chứng minh được tác dụng thực sự của nó.
Vapur cũng dựa vào đánh giá của các blogger, chuyên gia và các kênh truyền thông xã hội để xây dựng một cái nhìn tổng quan hơn về sản phẩm cho công chúng. Chính những nhận xét có giá trị từ các blogger, chuyên gia danh tiếng tác động và làm thay đổi nhận thức của người tiêu dùng.
Tiếp thị thông qua các phương tiện truyền thông xã hội là kênh thông tin có hiệu quả cao. Thông tin không chỉ được phổ biến rộng mà còn giúp sản phẩm mới của bạn trực tiếp chứng minh cho người tiêu dùng. Khách hàng lo ngại rằng robot Roomba sẽ gây hại cho thú cưng trong nhà sự an toàn vật nuôi của họ. Nhưng may mắn thay, nhiều khách hàng đã tự đăng tải các video lên Youtube quay cảnh vật nuôi trong nhà vui đùa với Roomba, thậm chí còn leo lên nằm chễm chệ trên Roomba. Nhiều khách hàng còn đặt tên cho robot Roomba giống như thú cưng trong nhà.

4. Kết nối chặt chẽ với khách hàng
Ban đầu, mền Snuggie chỉ có ba màu sắc nhưng hàng loạt các mẫu tiếp theo được thiết kế dựa trên ý tưởng của người tiêu dùng và các fan của Snuggie trên Facebook. Khách hàng đem lại sức sống cho thương hiệu. Luôn kết nối với khách hàng, giao tiếp và hợp tác là chiến lực để xây dựng thương hiệu vững mạnh trong tương lai. Roomba đã đẩy mạnh dịch vụ khách hàng ngay từ đầu để đảm bảo khách hàng có thể sử dụng sản phẩm trong tình trạng tốt nhất và luôn nhận được hỗ trợ kỹ thuật bất kỳ lúc nào.
Oona cũng bắt đầu quá trình “cá nhân hoá” cho sản phẩm của mình ngay từ rất sớm. Oona có một nhân viên quan hệ công chúng chịu trách nhiệm trả lời 50 đến 100 e-mail mỗi ngày, theo dõi tài khỏan Twitter, phản hồi và các bài viết đăng tải trên các phương tiện truyền thông xã hội. "Chúng tôi rất đam mê sản phẩm của mình, vì vậy chúng tôi dành thời gian để xem phản hồi tích cực và góp ý từ những khách hàng. Chúng tôi chưa được nhiều người biết đến nhưng rồi sản phẩm của chúng tôi mới được ưa chuộng".

Các chiến dịch truyền thông xã hội thành công

Hãng xe hơi danh tiếng này đã nổi tiếng với việc kết nối với khách hàng trung thành qua Twitter và Facebook. Vì vậy, sự ra đời của chú rối “Doug” là một sự mạo hiểm. Từ khi kênh YouTube của Doug phát sóng vào tháng 3, những video về chú rối ngộ nghĩnh này đã thu hút 1,5 triệu lượt xem.


Năm chiến dịch truyền thông xã hội (TTXH) của các thương hiệu sau đây là minh họa sống động cho việc sử dụng sáng tạo sức mạnh của mạng xã hội vào tiếp thị và quảng cáo.
American Express
Trong lúc mọi người đang loay hoay tìm cách áp dụng dịch vụ định vị trên ĐTDĐ (location-bases services LBS) vào một chiến dịch marketing thì American Express đã tiên phong tìm ra giải pháp. Sau khi kết nối tài khoản thẻ AmEx với tài khoản Foursquare, mỗi lần ghé đến hay dùng thẻ AmEx để thanh toán tại các địa điểm tham gia chương trình, chương trình khuyến mãi, giảm giá cho khách hàng sẽ được kích hoạt tự động. Việc này giúp cho khách hàng giảm thiểu phiền phức vì phục vụ kém khi sử dụng các phiếu khuyến mãi, giảm giá. Dù chương trình không thu hút được hàng triệu người dùng các loại thẻ khác chuyển sang dùng thẻ AmEx nhưng đây là hình mẫu để áp dụng LBS trong các chiến dịch quảng cáo cho các sản phẩm tương tự.
True Blood
Loạt phim nhiều tập được yêu thích True Blood của HBO sắp phát sóng mùa thứ 4. Hoạt động TTXH xoay quanh bộ phim cũng khá sôi nổi, tài khoản Twitter của True Blood đã có rất nhiều fan theo dõi từ mấy năm qua. Làm thế nào để gây ấn tượng và khuấy động khán giả cho mùa phim mới? HBO đã sáng tạo một ứng dụng trên Facebook cho phép người dùng “nhập vai” vào trailer của bộ phim.
“Các fan của True Blood rất trung thành và là những thành viên tích cực của các mạng xã hội , vì vậy chúng tôi muốn sáng tạo một hoạt động vừa mang tính giải trí cao vừa tạo điều kiện cho các fan tham gia như một phần của bộ phim” John Accarino, giám đốc bộ phận truyền thông xã hội của Definition 6- công ty truyền thông phụ trách chiến dịch chia sẻ.
Ứng dụng này chỉ mới được giới thiệu vài ngày nên chưa thể đánh giá được mức độ thành công. Nhưng rõ ràng, ứng dụng này giúp những fan của True Blood tham gia chủ động và tích cực hơn vào chương trình. Bên cạnh việc xuất hiện trong trailer, những huy hiệu dễ thương sẽ được dán lên tường nhà khi khán giả tham gia trả lời các câu hỏi liên quan đến bộ phim. Chiến dịch cũng nâng tầm quảng cáo lên một mức độ mới. Quảng cáo vốn là thứ không nhiều người thích nhưng giờ đây, với trailet True Blood, mọi người quan tâm và thích thú với việc chia sẻ quảng cáo này cho bạn bè.
Greenpeace Tổ chức Hòa bình xanh
Với những thương hiệu thương mại, TTXH giúp họ bán hàng và tiếp thị thương hiệu nhưng đối với Tổ chức Hòa bình Xanh (Green Peace), mục tiêu của họ là thay đổi nhận thức của mọi người trong việc bảo vệ môi trường.
Hòa Bình Xanh muốn nâng cao nhận thức của người dân về nạn phá rừng ở Indonesia còn Mattel-hãng đồ chơi lớn nhất thế giới với thương hiệu búp bê Barbie lại sử dụng các hộp đựng làm từ bột giấy của Indonesia.
Hòa Bình Xanh đã nghĩ ra một ý tưởng độc đáo. Họ đã treo một banner khổng lồ bên hông tòa nhà Mattel với hình ảnh búp bê Ken và dòng chữ “Chuyện của chúng mình đã kết thúc rồi Barbie! Anh không thích hẹn hò với các cô gái tham gia vào nạn phá rừng”.
Một chiến dịch viết thư phản đối cũng được thực hiện trên Facebook Connect .Người dùng gửi thư phản đối đến Mattel và đăng tải thư này lên tường nhà.
Ý tưởng có hơi khiên cưỡng một chút vì Barbie và cả Ken đều được đóng goi bằng một loại hộp như nhau. Tuy nhiên, kết cục của chiến dịch này là thắng lợi cho cả hai bên Hòa Bình Xanh và Mattel. Mattel ngay lập tức ngưng sử dụng bột giấy từ Indonesia và tận dụng cơ hội này để quảng bá hình ảnh cặp búp bê Ken-Barbie vẫn thắm thiết bên nhau như ngày nào. Hòa Bình Xanh giành thắng lợi, Mattel nỗ lực khắc phục sai lầm. Câu chuyên này xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện thông tin và là thắng lợi truyền thông cho cả hai bên.
Mello Yello
Làm cách nào để làm mới một thương hiệu đã tồn tại nhiều năm trên thị trường mà không được nhiều người tiêu dùng chú ý? Với soda Mello Yello – một thương hiệu con của Coca Cola, mọi chuyện thật đơn giản. Họ tìm thấy một fanpage sẵn có trên Facebook và hợp tác với chủ nhân để biến nó thành trang chủ của mình. Trang này đã thu hút 81000 thành viên- một con số không tồi đối với một thương hiệu dường như đã bị quên lãng. Trang Facebook của Mello Yello đem đến cho fan trải nghiệm hoài cổ. Ứng dụng ảnh cho phép fan ghép ảnh và trở thành một cô nàng/anh chàng hippy. Ứng dụng này cũng chẳng có gì đặc biệt nhưng nó thực sự mang lại hiệu quả cao vì chi phí bỏ ra hầu như rất ít so với các chiến dịch quảng cáo rầm rộ khác của Coca Cola. Chiến dịch này đã tận dụng các hoạt động của người tiêu dùng trung thành và tối ưu hóa nó.
Ford
Ford đã có nhiều chiến dịch TTXH thành công. Scott Monty- phụ trách TTXH của Ford là một huyền thoại của lĩnh vực TTXH.
Hãng xe hơi danh tiếng này đã nổi tiếng với việc kết nối với khách hàng trung thành qua Twitter và Facebook. Vì vậy, sự ra đời của chú rối “Doug” là một sự mạo hiểm. Từ khi kênh YouTube của Doug phát sóng vào tháng 3, những video về chú rối ngộ nghĩnh này đã thu hút 1,5 triệu lượt xem.
Con rối bất lịch sự này và bạn diễn, diễn viên hài John Ross Bowie đem đến cho mọi người một chuyến đi miễn phí trên chiếc Ford Focus. Bowie không ngừng ca ngợi các tiện nghi của Ford Focus còn Doug hài hước thì không ngừng trêu ghẹo mọi người, làm phiền hành khách. Doug có cả tài khoản Twitter và Facebook riêng. Chiến dịch này có vẻ có hiệu quả và động viên Ford tiếp tục có những thử nghiệm mới mẻ và mạo hiểm hơn.

Marketing trực tiếp và chiến lược khuyến mãi đạt hiệu quả

Trong khi người tiêu dùng TP.HCM thích được mua 2 hoặc 3 tặng 1, thì người tiêu dùng Hà Nội lại thích được giảm giá sản phẩm thứ 2 trong một lần mua.


Ngày nay, ngoài sử dụng những hình thức PR thương hiệu truyền thống (quảng cáo trên báo, đài TV, poster, băng rôn, tờ rơi...) những hoạt động marketing trực tiếp ngày càng tỏ ra có hiệu quả (đặc biệt đối với ngành hàng tiêu dùng).
Kết quả điều tra cho thấy, có tới 80% người tiêu dùng quan tâm tới các hoạt động quảng bá thương hiệu, trong đó hai hoạt động người tiêu dùng ưa thích nhất là phát sản phẩm mẫu và hướng dẫn sử dụng sản phẩm...
Những hoạt động thực tế như vậy giúp người tiêu dùng có thể đánh giá đúng chất lượng, lợi ích của sản phẩm và có những trải nghiệm sử dụng sản phẩm.
Có sự khác biệt giữa những người tiêu dùng ở hai thành phố Hà Nội và TP.HCM. Trong khi người tiêu dùng TP.HCM thích làm từ thiện, thì người tiêu dùng Hà Nội thích được chiết khấu, nhận quà tặng kèm hoặc tham gia ngày hội vui chơi.
Người tiêu dùng hai thành phố này cũng thích các hình thức khuyến mãi mang tính thực tế như giảm giá, mua 2/3 tặng 1 hoặc phiếu siêu thị.
Các chương trình khuyến mãi phức tạp dù có giải thưởng lớn như chương trình tích lũy điểm, thẻ cào, bốc thăm không còn hấp dẫn như trước vì thời gian tích điểm đổi quà lâu, thẻ cào bốc thăm có khả năng nhận thưởng không cao.
Trong khi người tiêu dùng TP.HCM thích được mua 2 hoặc 3 tặng 1, thì người tiêu dùng Hà Nội lại thích được giảm giá sản phẩm thứ 2 trong một lần mua.
Sự khác biệt này cũng xuất phát từ một đặc điểm: người TP.HCM khá thoáng và thoải mái trong việc chi tiêu nên thường mua nhiều cho một lần và họ sẽ rất thú vị nếu được tặng thêm. Người tiêu dùng Hà Nội khá cần kiệm nên có tâm lý muốn mua sản phẩm nếu được giảm giá trực tiếp. 

Báo chí & Doanh nghiệp

Đây có thể được xem là kiến thức bước đầu cho những ai quan tâm và muốn làm hoạt động PR tại thị trường Việt Nam.


Nhân kỷ niệm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, sáng ngày 10/6, tại TP.HCM , Hội nhà báo VN và Tạp chí Người làm báo tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề “PR – Báo chí & Doanh nghiệp”.
Buổi tọa đàm đã thu hút được sự quan tâm của trên 200 khách mời gồm các doanh nghiệp lớn và đại diện các cơ quan báo chí trung ương TPHCM và các tỉnh..
Chủ tọa buổi tọa đàm (từ trái sang): Ông Lê Phụng Hào, Chủ tịch Hội Marketing VN, ông Trần Ngọc Châu, Giám đốc kênh truyền hình FBNC, ông Phạm Quôc Toàn, Phó chủ tịch Hội Nhà báo VN
Cùng với sự hội nhập và phát triển của nền kinh tế, hoạt động truyền thông ngày nay không kém phần sôi động. Theo đó, PR được các nhà làm truyền thông và doanh nghiệp sử dụng như một công cụ để quảng bá hình ảnh, xây dựng thương hiệu cho đơn vị mình.
Tuy nhiên, PR là thuật ngữ mà từ nhà báo đến doanh nhân và ngay cả những bạn đọc bình thường cũng sử dụng trong những câu chuyện hàng ngày, nhưng thực sự hiểu về PR, sử dụng PR ra sao cho có hiệu quả thì không phải ai cũng hiểu và thực hành tốt.
Theo ông Phạm Quốc Toàn, Phó chủ tịch Hội nhà báo VN mục đích và ý nghĩa của cuộc tọa đàm không chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu khái niệm PR trên quan điểm truyền thông.
Thông qua buổi tọa đàm, ban tổ chức muốn chia sẻ những quan điểm PR hiện đại và đặc thù nhất tại thị trường Việt Nam, nơi có cấu trúc doanh nghiệp đa dạng về hình thức và trải rộng về thành phần.
Đây có thể được xem là kiến thức bước đầu cho những ai quan tâm và muốn làm hoạt động PR tại thị trường Việt Nam.
Chương trình được công ty phát triển thương hiệu BOLDMARK Việt Nam, công ty truyền thông KIMMEDIA phối hợp thực hiện với sự bảo trợ thông tin của kênh truyền hình kinh tế tài chính FBNC,  đài truyền hình Đồng Nai, báo Doanh nhân Sài Gòn và báo Pháp Luật TP.HCM.

Kinh doanh trong ngành bán lẻ

Các DN bán lẻ ở Việt Nam như Sài Gòn Co.op, SJC, Nguyễn Kim... ngày càng đầu tư nhiều hơn cho thương hiệu. Các công cụ truyền thông cho bán lẻ cũng ngày càng đa dạng hơn, từ những hình thức truyền thống như: quảng cáo trên truyền hình, báo giấy, báo mạng, bảng hiệu ngoài trời... cho đến những hình thức mới như: tiếp thị số, tối đa hóa công cụ tìm kiếm...


Theo báo cáo của Tổ chức Euromonitor về Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp (DN) bán lẻ hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương năm 2009, Việt Nam có 7 đơn vị tham gia bảng xếp hạng với tổng doanh thu 1,794 triệu USD, tăng trưởng 21,3%, trong đó doanh thu trung bình của những công ty có thứ hạng cao nhất tại Việt Nam là từ 300 - 400 triệu USD.
Con số này tuy còn nhỏ so với các nước khác trong khu vực, nhưng cũng cho thấy tiềm năng phát triển của các DN bán lẻ Việt Nam.
Với mạng lưới các chi nhánh, siêu thị rộng khắp trên toàn quốc, các tập đoàn bán lẻ luôn có những nhóm công chúng ưu tiên ở mỗi địa phương.
Vì vậy, vai trò của quan hệ công chúng (PR) trong ngành bán lẻ ngày càng được chú trọng.
Nếu trước đây thông tin chỉ đi một chiều, từ công ty đến khách hàng, thì ngày nay luôn có thông tin hai chiều giữa công ty và khách hàng, thông qua các hình thức như hộp thư góp ý, website... và phổ biến nhất là đường dây nóng (hotline).
Mỗi một thông điệp được truyền đi có thể tăng cường hay làm yếu đi một thương hiệu.
Ngoài mục đích thông tin đến khách hàng dịch vụ, mạng lưới của DN, PR trong ngành bán lẻ còn có vai trò xây dựng hình ảnh các cửa hàng/siêu thị để chiếm cảm tình của các nhóm công chúng mục tiêu.
Hãy kể câu chuyện bán lẻ để “tạo niềm tin bằng sự thật”
Nếu quảng cáo có thể nói quá sự thật bằng hình ảnh hay làm thông điệp trở nên hấp dẫn, thì đối với PR, sự thật về sản phẩm hay DN cần được thể hiện khéo léo bằng cách kể một câu chuyện.
Tuy nhiên, câu chuyện đó không nên quá “thần tiên” để tránh sau đó công chúng phát hiện sản phẩm “dở tệ” thì nỗ lực xây dựng niềm tin nơi công chúng của DN coi như vô ích.
Trong lĩnh vực truyền thông bán lẻ, câu chuyện PR lại càng phải được chăm chút hơn ở cách kể, có thể thay đổi giọng điệu, thời gian hay nơi kể tùy theo từng vùng, miền bởi đặc trưng của bán lẻ là hệ thống các cửa hàng rộng khắp, tính địa phương hóa rất cao.
Một câu chuyện hay ở TP.HCM chưa chắc đã được tán dương ở Hà Nội. Một giọng điệu thú vị ở miền Trung có khi gây khó hiểu ở miền Bắc.
Đối tượng đa dạng
Các nhóm công chúng mục tiêu của bán lẻ rất đa dạng, bao gồm: các nhóm khách hàng mục tiêu, các nhà phân phối, chính phủ, chính quyền địa phương..., trong đó nhóm khách hàng mục tiêu được cho là ưu tiên hàng đầu.
Ngoài ra, các nhà phân phối cũng đóng vai trò quan trọng, tạo nền tảng cho việc hợp tác kinh doanh được tiến hành thuận lợi hơn. Do đặc trưng tản mác theo từng vùng, miền và trải rộng trên toàn quốc, việc quản lý thông điệp và hình ảnh của công ty/tập đoàn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.
Nếu giao cho mỗi siêu thị tự quản lý sẽ xảy ra tình trạng không đồng nhất, đặc biệt khó kiểm soát hiệu quả và không có lợi về ngân sách.
Vì vậy, cách làm thông thường của những chuỗi bán lẻ lớn là tạo ra một chiến dịch PR hướng đến lợi ích chung mà người vùng nào cũng cần, thông qua các kênh truyền thông mà đối tượng nào cũng dễ dàng tiếp cận.
Nếu PR đối ngoại gắn liền với xây dựng hình ảnh tập đoàn hay tổ chức với bên ngoài, thì PR đối nội sẽ tập trung xây dựng các mối quan hệ bên trong tổ chức, thông thường sẽ được phối hợp chặt chẽ với công đoàn hay phòng nhân sự của tổ chức đó.
Với những tập đoàn bán lẻ lớn có hàng ngàn nhân viên làm việc tại các siêu thị trên toàn quốc hoặc toàn cầu thì PR đối nội càng quan trọng.
Những hoạt động này thường nhằm mục đích xây dựng các mối quan hệ bên trong tổ chức, giúp nhân viên hiểu được những chính sách mới của công ty, nâng cao tinh thần tập thể, tạo sân chơi chung cho toàn thể nhân viên.
Một trang web chung để mọi người cùng “vui sống”, các câu lạc bộ thể thao, văn hóa văn nghệ với các hoạt động bổ ích được tổ chức thường xuyên sẽ là chất xúc tác giúp mọi người gắn kết hơn, cảm thấy yêu quý công ty hơn, từ đó sẽ có khát vọng cống hiến nhiều hơn, đồng thời cũng tạo nền tảng cho việc phổ biến các chính sách mới sau đó. Nhiệm vụ này thường thuộc trách nhiệm của phòng nhân sự.
Tuy nhiên, với sự phối hợp của PR, các hoạt động hay thông điệp từ phía công ty sẽ được chấp thuận một cách khách quan hơn (ở các công ty bán lẻ, lượng nhân viên nghỉ việc, chuyển việc hay không đồng ý một quy định/chính sách mới xảy ra thường xuyên).
Ở một số tổ chức, khi PR đối nội được xác định là rất quan trọng thì bộ phận PR sẽ báo cáo trực tiếp với giám đốc nhân sự.
Dù là PR đối nội hay đối ngoại thì người làm công việc PR cần nhận thức đó phải là một quá trình đầu tư cho các mục tiêu dài hạn, chứ không thể đo đếm hiệu quả tức thời.
Một điều quan trọng khác, người làm PR phải hiểu rất rõ chính sách từ ban quản trị công ty, từ đó đưa ra chiến lược phù hợp, đồng thời cũng cần được sự hỗ trợ từ ban tổng giám đốc, là nơi trực tiếp đề ra các chiến lược.
Tóm lại, dựa trên số liệu của Bảng xếp hạng 500 DN bán lẻ hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương năm 2009, có thể nói, thị trường bán lẻ tại Việt Nam còn nhiều tiềm năng.
Các DN bán lẻ ở Việt Nam như Sài Gòn Co.op, SJC, Nguyễn Kim... ngày càng đầu tư nhiều hơn cho thương hiệu. Các công cụ truyền thông cho bán lẻ cũng ngày càng đa dạng hơn, từ những hình thức truyền thống như: quảng cáo trên truyền hình, báo giấy, báo mạng, bảng hiệu ngoài trời... cho đến những hình thức mới như: tiếp thị số, tối đa hóa công cụ tìm kiếm...
Bên cạnh đó, trong ngành bán lẻ, việc giao tiếp diễn ra hằng ngày, xu hướng truyền thông “đối thoại” sẽ được ủng hộ nhiều hơn “độc thoại”. Và với xu hướng đó thì PR là mảnh đất tuyệt vời để khai phá, bởi có nhiều ưu thế trong việc truyền tải thông điệp “đi vào lòng người”.

Tiếp thị tại cửa hàng vẫn chưa đủ

Trong bối cảnh đó, các ngành hàng, nhất là ngành sản phẩm gia dụng, đang phản ứng bằng cách cố gắng hiện diện trên mạng ở nơi mà người tiêu dùng nghiên cứu thông tin. Nút chọn “Buy Now” trên những website xã hội như Facebook, phần nhận xét về sản phẩm trên website của các hãng sản xuất và bán lẻ, những thông báo trực tuyến, phiếu mua hàng kỹ thuật số và những thông tin lan truyền trong giới blogger hiện đóng vai trò quan trọng để các sản phẩm lọt vào danh sách mua sắm và cuối cùng hiện diện trong xe đẩy chở hàng của người tiêu dùng ở siêu thị.


Tiếp thị tại cửa hàng thời nay là chưa đủ. Giờ đây việc mua sắm bắt đầu khá lâu trên mạng trước khi người tiêu dùng bước vào cửa hàng.
Nhằm tìm kiếm những giao dịch tốt nhất, ngày càng nhiều người mua sắm đã nghiên cứu danh sách hàng hóa trên mạng trước khi đến cửa hàng. Điều này có nghĩa doanh nghiệp phải thay đổi cách thức tiếp thị và chọn thời điểm “dụ dỗ” người mua hàng.
Thay đổi tập quán tiếp thị
 Doanh nghiệp phải thay đổi cách thức tiếp thị và chọn thời điểm “dụ dỗ” người mua hàng.
Trước đây, công cụ tiếp thị chủ yếu đối với hàng tiêu dùng vẫn là tiếp thị tại cửa hàng. Nhà sản xuất cố gắng tác động quyết định mua sắm của người tiêu dùng khi họ đến cửa hàng bằng cách trưng bày sản phẩm hào nhoáng, có hoạt động khuyến mãi đặc biệt ở cuối lối đi và bao bì đóng gói bắt mắt trên kệ. Nhưng xem ra thời nay như vậy là chưa đủ.
“Kiểu tiếp thị đó giờ không “ăn” nữa. Bạn cần giao tiếp theo cách hành xử của người mua sắm, nghĩa là bạn phải tiếp thị trên mạng và tại cửa hàng”, Dina Howell, Tổng Giám đốc Saatchi & Saatchi X, đơn vị tiếp thị tại cửa hàng của Tập đoàn Publicis Groupe SA, nhận định.
Quả vậy. Nếu trước đây người mua hàng chỉ bỏ công lên mạng khi cần tìm hiểu kỹ hơn về các sản phẩm đắt tiền như hàng điện tử thì gần đây khi khủng hoảng gây ra nhiều khó khăn, người tiêu dùng trở nên tỉ mỉ hơn. Họ dành thời gian lên mạng kể cả khi chỉ mua những sản phẩm hằng ngày như tã lót trẻ em hay bột giặt.
Xu hướng này được thể hiện rõ trong báo cáo mới đây của Hãng Tư vấn WSL Strategic Retail. Theo đó, hơn 1/5 trong số người tiêu dùng đã dành thời gian nghiên cứu về các loại thực phẩm và nước giải khát; gần 1/3 nghiên cứu sản phẩm cho thú cưng và 39% nghiên cứu sản phẩm dành cho trẻ em. Họ nghiên cứu trên mạng dù cuối cùng có xu hướng mua những sản phẩm đó tại cửa hàng. Nắm được điều đó, các hãng bán lẻ và nhãn hàng đã bắt đầu tiếp cận khách hàng thông qua blog, các website mạng xã hội như Facebook, Twitter và các website bán lẻ, bên cạnh các chiến dịch tại cửa hàng.
Một cuộc khảo sát của Hãng Tư vấn Booz & Co. và Hiệp hội các nhà sản xuất tạp phẩm Mỹ cũng cho thấy khoảng 62% người mua sắm cho biết họ tiến hành nghiên cứu trực tuyến cho ít nhất phân nửa trong các lần đi mua sắm.
“Tôi cần mua 6 món đồ. Vậy ai có giá tốt nhất cho những thứ đó? Chỉ mất 90 giây để biết điều đó trên mạng và đó là cách người mua sắm chọn cửa hàng”, Candace Corlett, Chủ tịch WSL Strategic Retail, cho biết.
Theo bà Corlett, người tiêu dùng tăng cường nghiên cứu việc mua sắm trên mạng một phần là do sự phát triển công nghệ, một phần là người mua sắm ngày càng trở nên tỉ mỉ hơn. Theo cuộc khảo sát người mua sắm hồi năm ngoái của WSL, khoảng 80% phụ nữ cho biết họ chú ý nhiều hơn đến giá cả của mọi thứ, so với mức 64% vào năm 2008.
Đồng quan điểm, bà Howell cho rằng, việc nghiên cứu kỹ lưỡng của người tiêu dùng có nghĩa là giờ đây việc mua sắm bắt đầu khá lâu trước khi người tiêu dùng bước vào cửa hàng.
Đẩy mạnh tiếp thị kỹ thuật số
Cách đây 3 năm, chỉ 10% dự án tiếp thị tại cửa hàng của Saatchi & Saatchi X là liên quan đến trực tuyến, nhưng hiện nay gần 100% phải qua trực tuyến. Tương tự, gần 20% lợi nhuận của Hãng đến từ hoạt động tiếp thị kỹ thuật số, so với mức dưới 5% cách đây 3 năm. Và với sự bùng nổ của mạng xã hội, các thiết bị di động, các trang web mua sắm theo nhóm, rõ ràng con số 20% lợi nhuận nói trên sẽ còn tăng nữa. Rõ ràng, đó là một kênh tiếp thị mà các doanh nghiệp bán lẻ không thể bỏ qua.
Bước chuyển kỹ thuật số này là một thách thức đáng kể đối với các công ty thực phẩm và hàng tiêu dùng, vốn không tiến nhanh trên mạng như hàng điện tử và thời trang. Họ bị cản trở bởi chi phí vận chuyển những sản phẩm cồng kềnh nhưng có giá trị thấp. Thế nhưng, các doanh nghiệp mảng này không phải không cần đến tiếp thị kỹ thuật số.
Ông Kevin Kells, phụ trách nhóm khách hàng là các doanh nghiệp hàng tiêu dùng của Google, cho biết, số lượng yêu cầu tìm kiếm trên Google về địa điểm cửa hàng, phiếu mua hàng, hóa đơn và những nhận xét về sản phẩm đã tăng gấp đôi hoặc gấp 3 so với năm ngoái.
Chính vì thế, những đại gia bán lẻ như Wal-Mart cũng đang dựa vào xu thế này để tăng tốc. Tập đoàn bán lẻ này đã tăng cường sử dụng Facebook và các website xã hội khác. “Qua thời gian, mọi người sẽ sử dụng các công cụ trực tuyến này như cách họ sử dụng truyền thông hoặc truyền miệng”, Stephen Quinn, Giám đốc Tiếp thị của Wal-Mart, cho biết.
Không những thế, họ còn đi xa hơn bằng việc cải tiến các thư thông báo trực tuyến thân thiện với người tiêu dùng hơn. Tập đoàn này đang tìm cách cung cấp thêm những thông báo đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, dựa trên mối quan tâm và nhu cầu của họ. “Nếu bạn không nuôi thú cưng, thông báo của bạn không cần có những thứ liên quan đến thú cưng”, ông Quinn nói thêm.
Trong bối cảnh đó, các ngành hàng, nhất là ngành sản phẩm gia dụng, đang phản ứng bằng cách cố gắng hiện diện trên mạng ở nơi mà người tiêu dùng nghiên cứu thông tin. Nút chọn “Buy Now” trên những website xã hội như Facebook, phần nhận xét về sản phẩm trên website của các hãng sản xuất và bán lẻ, những thông báo trực tuyến, phiếu mua hàng kỹ thuật số và những thông tin lan truyền trong giới blogger hiện đóng vai trò quan trọng để các sản phẩm lọt vào danh sách mua sắm và cuối cùng hiện diện trong xe đẩy chở hàng của người tiêu dùng ở siêu thị.
Tuy nhiên, bước chuyển trên không làm mất đi sự cần thiết của những chiến dịch quảng cáo tại cửa hàng. Tiếp thị tại cửa hàng thu hút sự chú ý của người tiêu dùng trong bối cảnh có sự phân tán khán giả giữa truyền hình và báo in. Và nó vẫn phát huy hiệu quả trong thời khủng hoảng, khi người tiêu dùng túng tiền có xu hướng đưa ra quyết định mua sắm khi nhìn lên các kệ hàng có thông tin khuyến mãi.