Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Vì sao tiếp thị nội dung lại chiếm được ưu thế?


Cuộc khảo sát cũng cho thấy “giám sát nội dung” được định nghĩa như là quá trình tìm kiếm, tổ chức và chia sẻ nội dung - giành vị trí hàng đầu trong chiến lược tiếp thị, tăng 17% so với 6 tháng trước. Công tác giám sát nội dung cũng có nhiều vấn dề của nó. Gần 70% người phụ trách nội dung cho rằng họ không có đủ thời gian làm việc. 66% cho rằng thiếu bản gốc và chất lượng nội dung là một trở ngại lớn. 38% khác lại cho việc đánh giá kết quả là rất khó khăn và 37% cho rằng thiếu nhân sự là thách thức thật sự.

Tiếp thị bằng nội dung (content marketing) là hình thức sử dụng những thông tin thích hợp và có giá trị nhằm thu hút khách hàng tiềm năng. Tiếp thị nội dung vượt qua các phương tiện tiếp thị khác như máy tìm kiếm, quan hệ công chúng và cả quảng cáo trên báo chí, truyền hình và đài phát thanh.
Tiếp thị nội dung được xem như là công cụ tiếp thị được yêu thích trong lĩnh vực thương mại điện tử.
HiveFire – một công ty giải pháp phần mềm tiếp thị đã khảo sát gần 400 chuyên gia tiếp thị về tình trạng của thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và phát hiện xu hướng rời bỏ các chiến thuật tiếp thị truyền thống và sử dụng tiếp thị nội dung. Thực tế, theo “Báo cáo khảo sát về tiếp thị thương mại điện tử” của HiveFire, có gấp đôi các nhà tiếp thị thương mại điện tử tận dụng nội dung tiếp thị so với sử dụng quảng cáo trên báo, truyền hình và phát thanh.
Vậy tiếp thị nội dung là gì? Đó là sự sáng tạo và công bố nội dung gốc, bao gồm các bài đăng trên blog, các trường hợp thực tiễn, các nhận xét khách quan, video và hình ảnh, nhằm mục đích của việc tạo ra sự hướng dẫn, tăng cường tính minh bạch của thương hiệu và bày tỏ ra các vấn đề chuyên môn của công ty.
Nghiên cứu của HiveFire cho thấy khoảng 82% các nhà tiếp thị tận dụng nội dung tiếp thị như một chiến lược trong các chương trình tiếp thị. Đứng ở vị trí thứ hai là tiếp thị trên máy tìm kiếm với 70%, theo sau là tổ chứ sự kiện với 68%, quan hệ công chúng với 64% và 32% đối với quáng cáo trên báo/ truyền hình/ đài phát thanh.
8% những người được khảo sát khẳng định bán hàng là mục tiệu hàng đầu của tổ chức của họ, tiếp theo là nâng cao nhận thức thương hiệu ( chiếm 35%). 28% khác cho rằng mục tiêu riêng của họ là tăng lượng truy cập trang web và 24% còn lại muốn cải thiện các kết quả tìm kiếm.
Tiếp thị nội dung trở nên phổ biến một phần vì đem lại nhiều triển vọng tiếp thị nhãn hiệu mà không tiêu tốn nhiều ngân sách. Gần một nửa các nhà tiếp thị được phỏng vấn cho biết họ chi gần 1/3 ngân sách để dùng cho việc tiếp thị. Các nhà tiếp thị thương mại điện tử cũng tin rằng hầu hết các khách hàng hiện tại và trong tương lai của họ đều sử dụng internet, lý giải vì sao các nhà tiếp thị tập trung mọi nỗ lực của họ để tiếp thị trên internet.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy “giám sát nội dung” được định nghĩa như là quá trình tìm kiếm, tổ chức và chia sẻ nội dung - giành vị trí hàng đầu trong chiến lược tiếp thị, tăng 17% so với 6 tháng trước. Công tác giám sát nội dung cũng có nhiều vấn dề của nó. Gần 70% người phụ trách nội dung cho rằng họ không có đủ thời gian làm việc. 66% cho rằng thiếu bản gốc và chất lượng nội dung là một trở ngại lớn. 38% khác lại cho việc đánh giá kết quả là rất khó khăn và 37% cho rằng thiếu nhân sự là thách thức thật sự.
Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề, các khảo sát cho thấy tiếp thị nội dung sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong tương lai của ngành tiếp thị.

Mua hàng trực tuyến tại Việt Nam


Trong khi đó, yếu tố bất lợi chủ yếu hiện nay của hình thức mua sắm này, yếu tố người tiêu dùng quan tâm nhiều nhất, là việc đảm bảo chất lượng sản phẩm. Khi mua hàng qua mạng, người tiêu dùng đặt “chất lượng và uy tín của nhà cung cấp” là yếu tố xem xét ưu tiên. Kế đến là “đa dạng sản phẩm/ dịch vụ”, “quy trình mua đơn giản”, “giao hàng tận nơi” và “đáng giá đồng tiền”.


Mua hàng trực tuyến tại Việt Nam có những đặc thù riêng biệt giữa các vùng miền. Nhưng nhìn chung, thói quen mua sắm hiện đại này có những điểm chung như nguồn thông tin nhận biết và tác động đến quyết định mua hàng phần lớn liên quan đến niềm tin.
Sản phẩm và dịch vụ
Top 5 sản phẩm thường được mua sắm qua mạng gồm: các sản phẩm thời trang (quần áo, mắt kính, túi xách...) (70%); điện tử và điện gia dụng (40%); hóa mỹ phẩm(39%); điện thoại (37%); quà lưu niệm (29%).
Ngoài việc mua nhiều các sản phẩm thời trang thì trong 3 khu vực có những sự khác biệt.
Người TP.HCM mua nhiều các sản điện tử và điện gia dụng (43%); người Hà Nội mua nhiều các sản phẩm hóa mỹ phẩm (61%); người Đà Nẵng lựa chọn nhiều dịch vụ đặt vé máy bay, vé tàu (53%).
Sự khác biệt có liên quan đến độ tuổi và giới tính. Trong khi phái nữ thiên về các sản phẩm làm đẹp thì nam giới lại thiên về hàng công nghệ (đồ điện và điện thoại). Những người ở độ tuổi 16 – 25 thích mua mỹ phẩm, còn những người ở độ tuổi 26 – 35 thích mua sản phẩm điện và điện gia dụng.
Những trang web
Top 5 trang web được người tiêu dùnglựa chọn khi mua hàng online: 123mua.vn; enbac.com; vatgia.com; cá nhân bán hàng qua mạng xã hội; muabanhangngay.com. Trong khi đó, người tiêu dùng TP. HCM chủ yếu mua qua trang: 123mua.vn, 5giay.vn, vatgia.com. Người Hà Nội chủ yếu mua qua trang enbac.com. Người Đà Nẵng mua chủ yếu qua trang: enbac.com, 123mua.vn, cá nhân bán hàng qua mạng xã hội.
Các yếu tố cân nhắc
Do có nhiều tiện ích mà lượng người tiêu dùng mua hàng trực tuyến ngày càng tăng. Những tiện ích của mua hàng qua mạng gồm: Tiết kiệm thời gian, thời điểm mua hàng linh loạt, giao hàng tận nơi, quy trình mua đơn giản, sản phẩm đa dạng.
Trong khi đó, yếu tố bất lợi chủ yếu hiện nay của hình thức mua sắm này, yếu tố người tiêu dùng quan tâm nhiều nhất, là việc đảm bảo chất lượng sản phẩm. Khi mua hàng qua mạng, người tiêu dùng đặt “chất lượng và uy tín của nhà cung cấp” là yếu tố xem xét ưu tiên. Kế đến là “đa dạng sản phẩm/ dịch vụ”, “quy trình mua đơn giản”, “giao hàng tận nơi” và “đáng giá đồng tiền”.
Đối tượng khách hàng
Là những người sử dụng internet thường xuyên, sống chủ yếu ở các thành phố lớn; sinh viên và nhân viên văn phòng (đây là đối tượng sử dụng internet nhiều nhất); độ tuổi từ 16 – 35 tuổi, chủ yếu là nữ.

Vì sao doanh nghiệp chê thị trường sách điện tử


Giám đốc một nhà xuất bản cho biết so với việc để ra một đầu sách ở thời điểm hiện tại, với chi phí từ 80 triệu đến 100 triệu đồng, thì việc làm sách điện tử là “rất kinh tế”, vì chỉ cần vài thao tác kỹ thuật mà không phải tốn tiền in hay giấy cũng như phát hành không sợ tồn kho.

 Với mức tăng trưởng hàng năm là 30%, nhưng thị trường máy đọc sách điện tử vẫn chưa được coi là phát triển khi nhiều doanh nghiệp kinh doanh và các nhà xuất bản chưa nhập cuộc vì ngại các vấn đề liên quan đến bản quyền.
 Máy đọc sách Amazon Kindle hiện chiếm khoảng 70% thị phần ở Việt Nam nhưng chỉ khoảng 10% - 20% số lượng người mua máy này mua sách của Amazon
Ông Hoàng Giang, Giám đốc điều hành Công ty maydocsach.vn, cho biết hàng tháng, công ty ông bán ra thị trường khoảng 500 máy cho các khách hàng lẻ. Các khách hàng mua khối lượng lớn các loại máy này là các doanh nghiệp, trường học và cả các cửa hàng bán máy đọc sách khác, và số lượng đơn đặt hàng mà công ty nhận được đang khá nhiều, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, thị trường máy đọc sách tại Việt Nam hiện nay vẫn còn được cho là nhỏ vì Công ty maydocsach.vn là đơn vị duy nhất được hãng bán sách trực tuyến lớn nhất thế giới là Amazon.com chọn làm đại lý và chưa có công ty lớn nào được chọn làm nhà phân phối chính thức của thương hiệu Amazon cả, theo ông Giang.
Nhìn chung thị trường phát triển khá mạnh, nhưng thị trường sách điện tử có bản quyền vẫn chưa phát triển. Ông Giang cho biết đa số các sách điện tử hiện nay là không có bản quyền, thường từ các diễn đàn hay thư viện trên mạng, được sử dụng miễn phí.
Ông Giang đưa ra dẫn chứng rằng máy đọc sách Amazon Kindle hiện chiếm khoảng 70% thị phần ở Việt Nam nhưng chỉ khoảng 10% - 20% số lượng người mua máy này mua sách của Amazon mà thôi. Số người còn lại thì đọc sách sưu tầm được từ các thư viện, diễn đàn trên mạng, hay chính những tài liệu của công ty bán máy.
“Ở thời điểm này, sách có bản quyền đang rất khan hiếm. Sách điện tử hiện đang ở dạng không có bản quyền, mà là thuộc dạng tài nguyên chia sẻ lại từ các diễn đàn hay các thư viện điện tử,” ông Giang nói. Bản thân Công ty maydocsach.vn cũng có một thư viện, với khoảng 10.000 tài liệu, trong đó khoảng một nửa là các cuốn sách điện tử, nhưng nguồn là lấy từ trên các website miễn phí này.
Lãnh đạo một số nhà xuất bản cho biết họ đang tìm hiểu về chuyện làm sách điện tử và sẽ nhảy vào “khi thị trường đủ lớn”.
Đã có những doanh nghiệp như Công ty Trí Việt ký hợp đồng không độc quyền trong một năm với Samsung Vina về việc bán nội dung số của 50 trong số 170 đầu sách thuộc tủ sách Hạt giống tâm hồn trong thời hạn một năm, trị giá 23.000 đô la Mỹ.
Công ty Lạc Việt cũng đã số hóa gần 5.000 đầu sách và tự phát triển định dạng sách điện tử riêng và bộ đọc LacViet – Reader của riêng mình, nhằm tránh tình trạng sao chép lậu.
Tuy nhiên, những con số này, theo giới xuất bản, vẫn còn rất nhỏ, so với tiềm năng phát triển của thị trường, cũng như mặt bằng thế giới.
Giám đốc một nhà xuất bản cho biết so với việc để ra một đầu sách ở thời điểm hiện tại, với chi phí từ 80 triệu đến 100 triệu đồng, thì việc làm sách điện tử là “rất kinh tế”, vì chỉ cần vài thao tác kỹ thuật mà không phải tốn tiền in hay giấy cũng như phát hành không sợ tồn kho.
Nhưng điều vị giám đốc này e ngại chính là tình trạng vi phạm bản quyền ngoài tầm kiểm soát của họ, khi mà họ đang đơn độc chống lại tình trạng sách lậu, vi phạm bản quyền từ các bản in trên thị trường. Vì thế, ý định vẫn chỉ dừng lại ở ý tưởng.

Thương hiệu & những điều thôi thúc


Một trường hợp có vẻ như bất đắc dĩ đối với doanh nghiệp, đó là khi các đối thủ trực tiếp bắt đầu đi trước một nước trong việc xây dựng lại hình ảnh thương hiệu. Thường trong một thị trường nào đó, nếu các đối thủ tạm thời hài lòng với thị phần, với doanh số thì thị trường đó ít có những biến động đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng này dễ bị phá vỡ khi trên thị trường xuất hiện một đối thủ mới hay một lãnh đạo mới với tham vọng lấn át đối thủ, phá vỡ thế quân bình trên thị trường để giành thêm thị phần.

Thông thường tại Việt Nam, có 6 tình huống thường thôi thúc các công ty tiến hành xây dựng và xây dựng lại chiến lược thương hiệu của mình.
Việc xây dựng chiến lược thương hiệu cùng với chiến lược kinh doanh ngay từ đầu sẽ giúp công ty có được định hướng xây dựng hệ thống kinh doanh hỗ trợ tối đa cho chiến lược thương hiệu theo mô hình Brand-Led.
Nghiên cứu năm 2011 về xu hướng tiêu dùng của Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen cho thấy đối với một số ngành hàng, người tiêu dùng sẵn sàng ưu tiên cho các thương hiệu Việt.
Tuy vậy, vẫn có những doanh nghiệp chưa thực sự đặt trọng tâm vào việc xây dựng thương hiệu. Đa số lãnh đạo các doanh nghiệp này cho rằng họ còn có nhiều vấn đề khác cần được ưu tiên hơn như phát triển hệ thống, phát triển sản phẩm, đảm bảo nguồn vốn hay chăm sóc các dự án đầu tư dang dở.
Đó là quan điểm đã cũ, vốn chỉ coi thương hiệu như một bộ phận cộng thêm và là công việc của bộ phận tiếp thị. Ngày nay, theo quan điểm quản lý hiện đại thì chiến lược thương hiệu phải trở thành một bộ phận luôn phải gắn liền với chiến lược kinh doanh và quyết định đến hoạt động của mọi bộ phận trong công ty. Mô hình quản lý đó gọi là Brand-Led Model.
Với quan điểm mới về vai trò của thương hiệu đối với chiến lược kinh doanh, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhìn nhận những cơ hội để xây dựng chiến lược thương hiệu một cách nghiêm túc. Về bản chất, mỗi thay đổi lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều có thể làm thay đổi hình ảnh và định vị thương hiệu, dẫn đến thay đổi toàn bộ chiến lược thương hiệu.
Thông thường tại Việt Nam, có 6 trường hợp thường thôi thúc các công ty tiến hành xây dựng và xây dựng lại chiến lược thương hiệu của mình.
Công ty mới thành lập
Việc xây dựng chiến lược thương hiệu cùng với chiến lược kinh doanh ngay từ đầu sẽ giúp công ty có được định hướng xây dựng hệ thống kinh doanh hỗ trợ tối đa cho chiến lược thương hiệu theo mô hình Brand-Led. Ngoài việc cơ chế hoạt động các phòng ban được xây dựng lấy chiến lược kinh doanh và chiến lược thương hiệu làm trung tâm, mọi nhân viên đều được tuyển dụng và đào tạo theo hướng mỗi người sẽ là một đại sứ thương hiệu.
Tất cả thành viên trong công ty đều phải hiểu rõ xây dựng thương hiệu là việc của mọi người chứ không chỉ của riêng bộ phận truyền thông - thương hiệu - marketing. Chỉ cần lãnh đạo doanh nghiệp chú trọng đến vai trò của thương hiệu và dành ra một khoản ngân sách nhất định cho tư vấn thì doanh nghiệp sẽ có thể xây dựng cho mình mô hình kinh doanh Brand-Lead hiện đại. Đây là điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp thành công trên thị trường.
Thay đổi chiến lược kinh doanh
Theo mô hình Brand-led thì chiến lược kinh doanh và chiến lược thương hiệu luôn được đi đôi với nhau. Chính vì vậy khi chiến lược kinh doanh thay đổi, chiến lược thương hiệu cũng sẽ thay đổi theo. Trong thời gian gần đây, chúng ta đã chứng kiến hàng loạt ngân hàng tiến hành xây dựng lại hình ảnh thương hiệu, cụ thể là thay đổi toàn bộ hệ thống nhận diện thương hiệu. Đó là vì các ngân hàng này thay đổi chiến lược kinh doanh.
Từ chỗ chỉ tập trung khai thác khách hàng doanh nghiệp, vốn mang lại nguồn thu nhập đáng kể, các ngân hàng đã mở rộng thị trường và có xu hướng chuyển dịch sản phẩm dịch vụ sang khách hàng cá nhân để khai thác các dịch vụ cộng thêm vì thị trường này còn nhiều tiềm năng.
Đây là một chiến lược kinh doanh mới với nhiều ngân hàng, đòi hỏi phát triển sản phẩm mới. Do đó, một hình ảnh mới về thương hiệu là điều rất cần thiết, có thể giúp các ngân hàng xác lập vị thế mới trên thị trường. Các ngân hàng như Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Hàng Hải (Maritime Bank), Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng Quốc tế (VIB) hay Ngân hàng Phát triển Nhà (HDBank) đã tạo ra những thay đổi hình ảnh trên thị trường ngân hàng, có thể giúp họ có vị thế khác biệt trên thị trường.
Phát triển về quy mô
Sau nhiều năm phát triển sản xuất kinh doanh với tỉ lệ tăng trưởng cao và không ngừng mở rộng lĩnh vực hoạt động, mua bán, sáp nhập, một số doanh nghiệp Việt Nam đã có những bứt phá về quy mô. Trong số này có thể kể đến các tập đoàn kinh tế đa ngành như Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Hòa Phát, FPT. Đặc biệt quá trình này đã làm thay đổi đáng kể kiến trúc thương hiệu của doanh nghiệp. Hệ thống thương hiệu mẹ và các thương hiệu con trở nên phức tạp và hệ thống quản trị thương hiệu cũ không còn phù hợp.
Các tập đoàn này cần phải xây dựng thương hiệu mới, thể hiện tầm vóc mới và áp dụng một hệ thống kiến trúc thương hiệu đồng nhất sao cho phát huy được thương hiệu mẹ đồng thời duy trì giá trị những thương hiệu con. Có thể xem việc thay đổi này như một “tuyên ngôn” đối với bên ngoài về sự phát triển và lớn mạnh của mình. FPT đã đi đầu trong việc tiến hành xây dựng lại hình ảnh thương hiệu mới của mình và của các công ty con cho phù hợp với sự phát triển về quy mô và mô hình hoạt động. Bảo Việt là một trong những tập đoàn đầu tiên thuộc khối doanh nghiệp nhà nước xây dựng mới hình ảnh của mình.
Thị trường có dấu hiệu chững lại
Trong nhiều trường hợp, có những thị trường tưởng như đã đi vào giai đoạn bình ổn và thoái trào. Tuy nhiên, những doanh nghiệp thông minh vẫn tạo ra được những cú hích và thổi vào đó những luồng gió mới, đẩy thị trường phát triển lên một tầm cao mới. Có thể lấy ví dụ về hàng tiêu dùng như nước tương, nước mắm hoặc mì gói. Một thị trường rất lớn tưởng như đã đi vào ổn định và bão hòa nhưng đã được khuấy động với hàng loạt chiến dịch quảng bá rầm rộ, châm ngòi cho một cuộc đua phát triển sản phẩm, tăng cường chất lượng và cách mạng trong bao bì, mang đến cho khách hàng nhiều chọn lựa hơn.
Hiện tại còn rất nhiều thị trường tiềm năng có thể được khuấy động bằng hoạt động quảng bá thương hiệu như nông sản, hoa quả tươi, đường tinh luyện, phần mềm, khách sạn, nhà hàng.
Nâng cấp sản phẩm, dịch vụ
Doanh nghiệp muốn nâng cấp toàn bộ sản phẩm hoặc dịch vụ của mình lên tầm cao mới thì cũng thường nghĩ đến việc thay đổi chiến lược thương hiệu. Điều này xảy ra với các doanh nghiệp phát triển tự phát và tạo ra được 1 thị trường riêng cho mình nhưng thiếu những tiêu chuẩn cơ bản của ngành. Ví dụ một số chuỗi nhà thuốc đã phát triển lâu năm nhưng vẫn chưa có những quy chuẩn tối thiểu về sử dụng logo tại cửa hàng.
Họ có hệ thống nhiều điểm bán hàng có cùng tên gọi nhưng hình ảnh thương hiệu cũng chỉ giới hạn ở nhận diện chứ chưa tạo ra được sự liên kết về mặt tình cảm với khách hàng. Sẽ tuyệt vời nếu chủ doanh nghiệp quyết định nâng cấp hệ thống phân phối đó cùng với một chiến lược định vị lại thương hiệu trong tâm trí khách hàng. Nói cách khác, nâng cấp sản phẩm dịch vụ sẽ dẫn tới thay đổi định vị thương hiệu. Vì thế, một chiến lược thương hiệu mới là rất cần thiết.
Khi các đối thủ ra tay trước
Một trường hợp có vẻ như bất đắc dĩ đối với doanh nghiệp, đó là khi các đối thủ trực tiếp bắt đầu đi trước một nước trong việc xây dựng lại hình ảnh thương hiệu. Thường trong một thị trường nào đó, nếu các đối thủ tạm thời hài lòng với thị phần, với doanh số thì thị trường đó ít có những biến động đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng này dễ bị phá vỡ khi trên thị trường xuất hiện một đối thủ mới hay một lãnh đạo mới với tham vọng lấn át đối thủ, phá vỡ thế quân bình trên thị trường để giành thêm thị phần.
Khi đó, việc đầu tư quảng bá hình ảnh thương hiệu sẽ nhằm mục đích cạnh tranh trực tiếp để phát triển thị phần, thu hút và chiếm khách hàng của các đối thủ khác. Khi một vài đối thủ có động thái đầu tư rõ rệt vào việc xây dựng thương hiệu, tạo ra những bứt phá trên thị trường thì các doanh nghiệp khác cũng phải cân nhắc phát triển thương hiệu nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi.
Có thể nói, với thương hiệu, khởi hành sớm sẽ có cơ hội về đích sớm.

“Bình” mới, thì “rượu” sẽ mới!

Tỷ phú công nghệ Leonid Boguslavsky từ Tập đoàn ru-Net đã chọn Nhóm Mua ở Việt Nam, thay vì một công ty nào khác ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan...Vậy, các nguồn vốn khác từ châu Âu có đến Việt Nam nữa không?


Gần đây, “ma lực” giảm giá đến 90% của các website “mua hàng theo nhóm” - groupon đã tạo thêm nguồn sinh lực cho thương mại điện tử Việt Nam. Nhưng, liệu nó có “bùng” lên sau thương vụ đầu tư “khủng” 60 triệu USD vào Tập đoàn MJ, như một dấu hiệu vô cùng lạc quan, hay lại tiếp tục “hạn hán chờ cơn mưa”?
Chợ đông mà thiếu “niềm tin”
Trên thế giới, thậm chí, các ông lớn công nghệ như Google, Facebook đang “lăm le” đánh chiếm thị trường groupon. Groupon được coi là “một công ty phát triển nhanh chóng nhất trong lịch sử”.
Năm ngoái, groupon ở Mỹ đã đạt doanh số 760 triệu USD, kỳ vọng năm nay tới một tỷ USD. Chỉ trong ba năm, groupon trở thành một “mô hình kinh doanh” mới, tạo ra thị trường mới đột phá từ những sản phẩm khuyến mãi “đỉnh”.
Tương tự, ở Việt Nam, gần hai năm trở lại, các website groupon đang được “sinh sản vô tính”. Tuy vậy, trong hàng trăm website groupon, chỉ có thể điểm danh vài gương mặt nổi trội, như Nhóm Mua, muachung, hotdeal, cungmua, zingdeal,...
Gần đây, Công ty Thế Giới Di Động cũng muốn áp dụng mô hình này cho nhóm các sản phẩm điện thoại, điện tử, điện máy.
“Chợ” groupon đông đúc và náo nhiệt đang được hỗ trợ tích cực bởi nhiều yếu tố. Tháng 8/2011, kết quả nghiên cứu Net Index 2011 của Yahoo - Kantar Media cho thấy, tỷ lệ sử dụng internet hàng ngày (52%) lần đầu tiên đã vượt qua tỷ lệ nghe đài (40%) và đọc báo
in (23%).
Đặc biệt, số người sử dụng internet trên điện thoại di động ở những nơi mà ADSL chưa thực sự phát triển như Đà Nẵng, Cần Thơ... đang gia tăng nhanh chóng.
Chưa hết, các cơn lốc “siêu phẩm công nghệ” như iPhone, iPad, Galaxy Tab..., với nhiều tính năng vượt trội được thị trường nồng nhiệt đón nhận, góp thêm phần hào hứng cho thương mại điện tử nói chung và groupon nói riêng.
Tuy vậy, bức tranh groupon còn có những mảng màu tối. Người tiêu dùng từng “kêu” trên các phương tiện truyền thông đại chúng rằng họ từng bị thiệt hại hay gặp phiền toái khi sử dụng các coupon giảm giá “khủng”.
Ví dụ đơn giản, nhà hàng không chăm sóc các khách hàng groupon tận tình như các khách hàng khác, hoặc cố tình giảm chất lượng món ăn. Phải chăng đó là cách để bù đắp khoản khuyến mãi 50-90% đã đưa ra? Kịch tính hơn, có cửa hàng thời trang đột ngột “mất tích” trước ngày coupon hết hạn.
Groupon đang gặp phải những vấn đề “kinh niên” của nền kinh tế Việt Nam. Đó là sự thiếu chữ tín trong kinh doanh; đó là nạn hàng giả, hàng nhái hoành hành; đó là việc mua bán dựa vào quan hệ cá nhân làm nền tảng cho niềm tin.
Một lần nữa Net Index 2011 khẳng định thế. Hóa ra, “rượu mới mà bình vẫn cũ”! Cơn lốc groupon mạnh mẽ thế, nhưng du nhập qua “thân thể” yếu kém của nền kinh tế Việt Nam đang “chậm dần” lại chăng?
Đi tìm “anh cả”
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trên thị trường groupon cần được đặt ra mạnh mẽ, vì họ phải trả tiền trước khi sử dụng coupon. Họ có quyền lo lắng và hồ nghi. Website nào uy tín? Nhà cung cấp nào uy tín? Nếu có vấn đề xảy ra, ai sẽ là người giải quyết khiếu nại (đặc biệt trong bối cảnh hạ tầng pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam chưa hoàn thiện)?...
Vì vậy, người tiêu dùng càng cần hiểu biết rõ hơn về những website làm ăn uy tín, có thể buộc nhà cung cấp giữ đúng cam kết về chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Hoặc nếu có vấn đề xảy ra, website đó sẽ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng. Thị trường rất cần những “anh cả” mang đến cho họ “niềm tin”!
Một website như thế dường như đã xuất hiện, khi thương vụ thỏa thuận đầu tư 60 triệu USD vào Tập đoàn MJ ra mắt. MJ gồm Nhóm Mua, Địa Điểm cùng hai công ty khác, trở thành tập đoàn số một về thương mại điện tử ở Việt Nam.
Theo ông David Trần, Giám đốc điều hành Chi nhánh TP.HCM, mục tiêu tối thượng của MJ là “trở thành người giữ vai trò thiết lập xu hướng ở Việt Nam, bằng cách chú trọng thực sự vào nhu cầu của người tiêu dùng và doanh nghiệp”.
Mặc dù, “thỏa thuận đầu tư” chưa công bố mức đầu tư từng giai đoạn và nội dung cụ thể, nó vẫn là cơ sở vững chắc cho Nhóm Mua khẳng định vị trí số 1 của mình. Bởi ba quỹ đầu tư công nghệ đó đều có “máu mặt” trên thế giới: IDG Ventures Vietnam, Rebate Networks, ru-Net.
Nhóm Mua thừa hưởng “gia tài” kinh nghiệm của Rebate Networks tại hơn 30 nước và hơn 1.000 thành phố trên toàn thế giới. Nhóm Mua học được kinh nghiệm thiết kế deal để cân bằng lợi ích giữa các bên (Nhóm Mua - nhà cung cấp - người tiêu dùng), những trục trặc có thể xảy ra và phương hướng giải quyết.
Với website diadiem.com phát triển từ năm 2003, việc tính toán đường đi hiệu quả cho người giao coupon cũng trở nên dễ dàng. Và, trên hết, như ông Michael Brehm, nhà lãnh đạo Rebate Network tiết lộ, đội ngũ ấn tượng của Nhóm Mua đóng vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư.
Đó là: Tom Trần, Tổng giám đốc Tập đoàn MJ - nhà sáng lập, tướng tiên phong, vốn là chủ một công ty phần mềm từ Silicon Valley, có thế mạnh về chiến lược và công nghệ; David Trần - Giám đốc điều hành Chi nhánh TP.HCM giỏi về marketing; Võ Giao - Tổng giám đốc Chi nhánh Hà Nội giỏi phát triển thị trường; và Ken Trương - Tổng giám đốc bán hàng Chi nhánh TP.HCM dày dạn trong bán hàng.
Có vẻ như, khoản đầu tư “khủng” 60 triệu USD ấy sẽ “chống lưng” cực tốt cho Nhóm Mua hiện thực hóa tham vọng của mình.
Bởi, nếu không có tiền nuôi quân hay tuyển quân tinh nhuệ, không có tiền xâm nhập thị trường mới, không có tiền quảng bá mạnh mẽ, không có tiền giải quyết, đền bù tổn thất cho người tiêu dùng, ai dám “mạnh miệng” tuyên bố sẽ “đi đường dài” và tận tâm thực hiện các cam kết bảo vệ khách hàng của mình?
Theo ông Robert Trần, Tổng giám đốc Tập đoàn Tư vấn chiến lược Robenny, một “business model”, tạm gọi là "mô hình kinh doanh" từ quốc tế, khi
được áp dụng ở một địa phương thì cần phải qua giai đoạn “decode of strategy in local market”, tức là “dịch mô hình chiến lược ra ngôn ngữ địa phương”. Với các công ty như Groupon, là trung gian giữa các nhà cung cấp (người bán) và khách hàng (người mua), thì điều rất quan trọng là kiểm soát được chất lượng hàng hóa, dịch vụ được cung cấp. Trong môi trường kinh doanh mới phát triển như ở Việt Nam, đây là một việc không dễ dàng chút nào. Các nhà cung cấp nhỏ lẻ, không phải ai cũng giữ đúng được những cam kết như ban đầu, sau khi họ đã chiết khấu rất nhiều cho khách hàng (thường trên 50%). Đây là một vấn đề rất then chốt. Chỉ có những công ty có vốn đầu tư tốt (tiền bạc, thời gian, công sức), có tầm nhìn dài hạn, tạo ra cơ chế đánh giá được chất lượng hàng hóa và dịch vụ của nhà cung cấp, để kiểm soát được chúng thì mới có thể tạo lập được lòng tin với khách hàng, trong lâu dài. Theo ông, các website
groupon hiện đang được nhân bản, nhưng sắp tới sẽ bước vào giai đoạn “filter”- chọn lọc. Thị trường sẽ tự loại dần những công ty làm ăn không chân chính, không tạo lập được uy tín và lòng tin đối với khách hàng.
Trong vòng chưa tới 10 tháng, Nhóm Mua đã tiết kiệm cho người tiêu dùng hơn 12 triệu USD, đem về hơn 6 triệu USD doanh thu cho doanh nghiệp, với bốn triệu người truy cập hằng tháng vào website Nhommua.com, bán được hơn 800.000 thẻ mua hàng.
Tập đoàn MJ dự kiến tuyển dụng ít nhất 1.000 nhân viên mới trong vòng 12 tháng tới vào các vị trí quản lý, kỹ thuật, hỗ trợ, hành chính. Nhóm Mua cũng dự kiến nhanh chóng mở rộng tới Hải Phòng, Cần Thơ.
Theo một nguồn tin có cơ sở, Nhóm Mua hiện chiếm khoảng 60% thị phần mua hàng theo nhóm ở Việt Nam. Vai trò “anh cả” trên thị trường đã được xác lập.
Người đi sửa chữa thị trường
Trong câu chuyện bảo vệ người tiêu dùng, có thể nói, tầm nhìn ngắn hạn - “ăn xổi ở thì”, và hiểu biết chưa thấu đáo về groupon đã dẫn đến sự thiếu “chữ tín” của nhà cung cấp. Thấu hiểu điều này, Nhóm Mua đã xác định mình như một người “đi sửa chữa thị trường”.
Làm cho nhà cung cấp hiểu rõ về groupon và nề nếp kinh doanh lấy “chữ tín” làm đầu là công việc “anh cả” xác định rõ. Nhà cung cấp cần hiểu rằng khoản khuyến mãi chính là chi phí marketing, xây dựng thương hiệu và “chiêu mộ” khách hàng mới.
Muốn vậy, nhà cung cấp cần phải nhìn xa hơn, phải phục vụ và chăm sóc khách hàng tốt, phải tạo niềm tin cho họ, để bất cứ lúc nào khách hàng có nhu cầu sẽ nghĩ ngay đến mình, dù có khuyến mãi hay không.
Không phải ngẫu nhiên mà các nhãn hàng lớn như Sony Ericsson, P&G, Megastar, Cơm Tấm Mộc... rất thích hợp tác với Nhóm Mua. Họ tìm thấy sự “đồng cảm” với Nhóm Mua trong tầm nhìn xa, phong cách làm việc chuyên nghiệp, và sự tận tâm với khách hàng.
Để thuyết phục được nhà cung cấp hiểu đúng về groupon và giữ “chữ tín”, nhân viên bán hàng của Nhóm Mua phải được đào tạo liên tục. Mất tới ba, bốn tháng trời để một nhân viên có khả năng định hướng khách hàng giữ “chữ tín”.
Tại TP.HCM và Hà Nội, Nhóm Mua có tới gần 150 nhân viên thuộc bộ phận Customer Merchant Service (Dịch vụ khách hàng và nhà cung cấp). Bộ phận này có nhiệm vụ tiếp nhận các khiếu nại của khách hàng (qua hotline, website, email, skype...), cũng như kiểm tra các deal trước khi ký hợp đồng và sau khi kết thúc deal.
Khi có vấn đề xảy ra, câu chuyện bảo vệ người tiêu dùng bằng “chữ tín” rất “thiên hình vạn trạng”. Ví dụ, khi nhà hàng Dê Núi chỉ chấp nhận hai khách hàng sử dụng tối đa hai voucher, mà điều này không có trong quy định, Nhóm Mua đã “mạnh tay” phạt hợp đồng, xin lỗi khách hàng và tặng họ sử dụng miễn phí dịch vụ lần đó.
Hoặc có dịch vụ spa massage chân, khi nhiều khách hàng không cho tiền tip, sau đó nhân viên đã “đình công” và hẹn lần lữa đến khi hết hạn coupon. Trường hợp này, Nhóm Mua kiên quyết thu hồi voucher, trả lại tiền cho khách hàng, tặng coupon khác như một bù đắp cho sự phiền phức họ phải gánh chịu.
Đối với trường hợp nhà cung cấp chuyển địa điểm, hay “biến mất” thì Nhóm Mua sẽ, tất nhiên, hoàn lại tiền cho khách hàng...
Tỷ phú công nghệ Leonid Boguslavsky từ Tập đoàn ru-Net đã chọn Nhóm Mua ở Việt Nam, thay vì một công ty nào khác ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan...Vậy, các nguồn vốn khác từ châu Âu có đến Việt Nam nữa không?
Ông chủ Michael Brehm của Tập đoàn Rebate Networks khẳng định, MJ với Nhóm Mua sẽ là một hình mẫu (model) của thị trường! Hiệu quả của nó sẽ trở thành tiêu chí để các nguồn vốn công nghệ từ châu Âu quyết định có đầu tư vào thương mại điện tử Việt Nam không. Xem ra, Nhóm Mua đúng là “anh cả” trên thị trường, theo nhiều nghĩa!

5 bí quyết sáng tạo các slogan độc đáo

Nếu slogan của bạn dài hơn một từ thì chắc chắn phải có vần điệu. Slogan dù là đọc hay viết đều phải có vần và thuận tai. Slogan có vần điệu sẽ dễ thuộc, dễ nhớ. Một trong những điểm cộng cho slogan là gắn nó vào một bài hát. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những từ ngữ trong bài hát giúp người ta dễ nhớ hơn rất nhiều so với từ ngữ ở dạng văn bản thông thường.


Slogan là một trong những công cụ định vị thương hiệu cho công ty. Chỉ với vài từ ngắn gọn, nó phản ánh đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp sản phẩm và khắc ghi vào tâm trí khách hàng những ý niệm đầu tiên của sản phẩm.
Ngắn
Đây là yếu tố bắt buộc cho bất kỳ slogan nào. Mỗi slogan nên gói gọn trong khoảng từ 6 đến 8 từ. Slogan càng dài càng khó nhớ (trừ khi có vần điệu). Yếu tố quan trọng hàng đầu cho mỗi slogan là phải dễ nhớ, để người tiêu dùng đọc qua, nghe qua một lần cũng có thể ghi nhớ. Slogan ngắn này cũng thuận tiện hơn trong việc in ấn lên bao bì, sản phẩm, banner, poster quảng cáo.
Ví dụ: Slogan "Think different." (Tạm dịch: “Nghĩ khác”) của Apple do Dave Smith sáng tạo
Trung thực
Khi bắt tay vào viết một slogan, copywriter rất dễ rơi bay bổng quá mức và phóng đại tính chất của sản phẩm. Slogan sẽ tạo được ấn tượng mạnh nếu phản ánh chính xác công việc kinh doanh. Những câu đại loại như “ ABC là sản phẩm số 1 trên thị trường”, “XYZ là doanh nghiệp hàng đầu” vừa không chính xác vừa quá chung chung lại tạo ấn tượng xấu cho khách hàng. Thay vào đó, hãy thực tế và tìm một cách đơn giản nhất để nhấn mạnh ưu điểm của công ty.
Ví dụ: "It's everywhere you want to be." (Tạm dịch: Là bất cứ đâu bạn đến)
Đưa ra cam kết
Có thể công ty của bạn không kinh doanh sản phẩm nào độc đáo, khác biệt so với các sản phẩm hiện có trên thị trường nhưng slogan càng phải khác biệt để tăng tính cạnh tranh. Trong trường hợp này, một slogan tốt không phải là slogan phản ánh tính chất của sản phẩm mà phản ánh cam kết phục vụ tốt hơn của doanh nghiệp đối với khách hàng. Cam kết nâng cao chất lượng phục vụ sẽ giúp khách hàng phân biệt bạn với các thương hiệu khác
Ví dụ tiêu biểu là slogan của tập đoàn chuyên cho thuê xe hơi Avis: “We’re No 2. We try harder” (Tạm dịch: “Chúng tôi đứng thứ 2. Chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa”)
Làm rõ tích cách tiêu biểu của sản phẩm
Một trong những mục tiêu của slogan là phân biệt sản phẩm và thương hiệu của bạn với các đối thủ khác bên cạnh việc làm nổi bật tiêu chí của sản phẩm. Nếu sản phẩm, dịch vụ của bạn có một thế mạnh nào đó vượt trội so với đối thủ, hãy sử dụng nó. Slogan là ấn tượng đầu tiên với khách hàng, vì vậy hãy tận dụng slogan để giới thiệu giá trị của bạn. Tìm một từ chính diễn tả tính cách sản phẩm và phát triển nó thành slogan
Ví dụ: Slogan "Great taste, less filling" (tạm dịch: Hương vị tuyệt vời, ít no hơi) của hãng bia Miller Lite.
Có vần điệu
Nếu slogan của bạn dài hơn một từ thì chắc chắn phải có vần điệu. Slogan dù là đọc hay viết đều phải có vần và thuận tai. Slogan có vần điệu sẽ dễ thuộc, dễ nhớ. Một trong những điểm cộng cho slogan là gắn nó vào một bài hát. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những từ ngữ trong bài hát giúp người ta dễ nhớ hơn rất nhiều so với từ ngữ ở dạng văn bản thông thường.
Ví dụ: Sản phẩm khăn giấy Bounty của Procter&Gamble có slogan rất kêu “ The quilted quicker picker upper."

FMCG trong mắt của người tiêu dùng

- Đa số những sản phẩm kém chất lượng được mua từ xe bán dạo và bán hàng lề đường, tiếp theo là khu vực bên ngoài chợ. Việc mua phải sản phẩm chất lượng kém nói chung xuất phát từ việc thử mua sản phẩm khi chưa nhận được bất kỳ thông tin nào về sản phẩm.


Nhóm hàng tiêu dùng nhanh (FMCG - Fast Moving Consumer Goods) được đánh giá ra sao trong mắt người tiêu dùng Việt Nam, khảo sát của Công ty FTA.
Nguồn gốc xuất xứ. Người tiêu dùng quan tâm tới những sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, và thích những sản phẩm xuất xứ từ nước ngoài hơn (39%) là những sản phẩm xuất xứ trong nước (17%).
Đối với các sản phẩm xuất xứ trong nước, người tiêu dùng quan tâm tới các sản phẩm ăn uống, đặc biệt là thực phẩm hơn là các sản phẩm chăm sóc cá nhân/gia đình.
Giá cả. Đối với sản phẩm FMCG, sản phẩm chất lượng tốt không hẳn là có giá cao, đa số người tiêu dùng quan tâm nhiều tới những sản phẩm có giá trung bình (46%).
Bao bì. Vỏ bao bì của một sản phẩm chất lượng tốt được ưu tiên theo thứ tự các tiêu chuẩn: Thông tin đầy đủ về sản phẩm trên bao bì, nguyên liệu vỏ bao bì chắc chắn, an toàn, có dấu chứng nhận sản phẩm an toàn vệ sinh/sức khoẻ.
Nhà sản xuất. Người tiêu dùng thường có lòng tin vào uy tín của nhà sản xuất (60%). Đây là tín hiệu tốt để các công ty uy tín trên thị trường mở rộng hoặc đổi mới dòng sản phẩm của mình.
Đối với logo, và màu sắc sản phẩm, tuy không được người tiêu dùng chú ý nhiều như các yếu tố khác, nhưng một logo in to, rõ ràng, đặt ở mặt trước bao bì, và sản phẩm có màu sắc tự nhiên thì tạo ấn tượng tốt cho người tiêu dùng hơn (35%).
Nguồn thông tin nhận biết. Phần lớn người tiêu dùng nhận biết sản phẩm chất lượng tốt thông qua giới thiệu từ bạn bè/người thân (76%), đặc biệt là người tiêu dùng Đà Nẵng (93%), kế đến là quảng cáo trên TV/radio (74%) và tự bản thân tìm hiểu (63%), không có nhiều khác biệt giữa các khu vực.
- Người tiêu dùng Cần Thơ đặc biệt tin vào nhận xét của giới chuyên môn hơn là người tiêu dùng 3 thành phố còn lại. Cần Thơ là 70% trong khi đó Đà Nẵng 49%, Hà Nội 56%, TP.HCM 40%.
- Quảng cáo trên TV/radio và tư vấn từ nhân viên bán hàng cũng khá hiệu quả đối với người tiêu dùng tại Cần Thơ.
Kênh phân phối. Trong nhận thức của người tiêu dùng, nơi bán sản phẩm chất lượng tốt là ở siêu thị (90%), kế đến là Metro (67%).
goài ra còn có tiệm tạp hoá vừa/lớn có bảng hiệu (52%), cửa hàng showroom/đại lý chính hãng, không có nhiều khác biệt giữa các khu vực. Xe bán dạo và các điểm bán hàng lề đường được xem là nơi bán sản phẩm chất lượng kém.
- Nhìn chung người tiêu dùng tại hai thành phố lớn TP.HCM và Hà Nội mua phải thực phẩm kém chất lượng nhiều hơn tại Đà Nẵng và Cần Thơ.
Người tiêu dùng Đà Nẵng mua phải sản phẩm chăm sóc cá nhân gia đình kém chất lượng nhiều nhất, còn người tiêu dùng Cần Thơ thì lại mua phải nhiều bánh kẹo và đồ uống kém chất lượng.
- Đa số những sản phẩm kém chất lượng được mua từ xe bán dạo và bán hàng lề đường, tiếp theo là khu vực bên ngoài chợ. Việc mua phải sản phẩm chất lượng kém nói chung xuất phát từ việc thử mua sản phẩm khi chưa nhận được bất kỳ thông tin nào về sản phẩm.
- Riêng đối với thực phẩm, người tiêu dùng có tâm lý ngại đi xa, nên họ thường mua tại những địa điểm thuận tiên, gần nhà, gần chỗ làm mặc dù vẫn còn hoài nghi về chất lượng. 

Hợp thời chưa chắc đã hợp lý


Khả năng tồn tại và phát triển của DN được xác định không chỉ bởi vấn đề tài chính mà còn là sự kết hợp của nhiều vấn đề khác. Và bất kỳ vấn đề yếu kém nào đều có thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của DN, tác động đến sự thành công của TCT.

Có những công ty trong một năm tái cấu trúc (TCT) đến ba lần nhưng vẫn phá sản vì chiến lược quản lý không hiệu quả. TCT có phải là phương thuốc trị bách bệnh cho những doanh nghiệp (DN) hoạt động không hiệu quả?
Kinh tế khó khăn, DN thường nghĩ đến việc TCT công ty nhưng không phải mỗi khi khủng hoảng là TCT. Phát biểu tại diễn đàn “Tái cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam 2011” mới đây, ông Vũ Quốc Đại, chuyên gia tư vấn TCT, cho rằng, khủng hoảng là cơ hội để TCT nhưng TCT không gượng ép mà phải thật sự cần thiết.
DN chỉ nên TCT công ty khi bị suy giảm tài chính, doanh thu giảm, lợi nhuận thấp, thị phần bị thu hẹp, hoặc chưa giảm nhưng tăng trưởng chậm.
Trên thực tế, đa số DN hiện nay hoạt động không hiệu quả vì năng lực quản lý chưa tốt, không nhìn ra cơ hội kinh doanh và thường bắt chước nhau.
“DN mình có cái bệnh là thấy người ta đưa ra chiến lược mình cũng làm chiến lược, thấy DN khác TCT thì mình cũng TCT... mặc dù ý tưởng không thiếu”, ông Hoài nói.
Cùng nhận xét này, ông Nguyễn Trung Thẳng, Viện trưởng Viện Marketing và Quản trị doanh nghiệp, cho rằng, việc TCT ở Việt Nam đang bị lạm dụng. Nhiều công ty TCT mà không biết mình đang làm gì.
Ông Đỗ Thanh Năm, Tổng giám đốc Công ty tư vấn Win - Win cũng cho rằng, DN hiện nay có quyết tâm về việc đổi mới nhưng cách thức tiến hành TCT chưa phù hợp.
DN thường làm theo kiểu “đau đâu chữa đấy” nên kết quả không như mong muốn, chữa xong bệnh này xuất hiện bệnh khác, rồi lại tiếp tục chữa - tiếp tục TCT.
Chính điều này đã gây tâm lý mệt mỏi, lúng túng, mất niềm tin trong DN. Theo ông Năm, không thể bắt tay ngay vào quá trình TCT DN khi chưa tiến hành khảo sát toàn diện và chuyên sâu.
Không chỉ lạm dụng mà nhiều DN còn thực hiện việc TCT một cách nửa vời. Theo ông Năm, về chiến lược, chỉ mới dừng lại ở ý tưởng, chưa có kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể.
Hầu hết các DN chưa có sự ưu tiên và đầu tư bài bản cho các hoạt động quan trọng như marketing, thương hiệu; hoạt động về con người, về tài chính, sản xuất... và thiếu sự nhất quán trong thương hiệu và chiến lựơc.
Về mô hình quản lý thì chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn chồng chéo, kiêm nhiệm, không có đủ quyền hạn và sự phối hợp không chặt chẽ... Chính vì vậy, không ít DN phải TCT nhiều lần.
Kinh nghiệm tư vấn nhiều năm trong lĩnh vực TCT, ông Bùi Ngọc Hồng, luật sư của Công ty Indochine Counsel cho biết, có rất nhiều DN đưa ra yêu cầu TCT chỉ để nhằm mục đích huy động vốn, làm cho cổ phiếu phát hành có giá...
Theo các chuyên gia tư vấn, việc thực hiện TCT DN phải qua 4 giai đoạn: lựa chọn, chuẩn đoán và phân tích, lập kế hoạch, thực hiện. Và TCT là một dự án nên phải hoạch định, cấu trúc và quản trị dự án với một chiến lược đúng.
Thế nhưng, khảo sát của Viện Marketing và Quản trị doanh nghiệp cho thấy, chỉ có 10% tổ chức thực thi được chiến lược của mình.
Trong đó, chỉ có 5% nhân lực hiểu được về chiến lược, 25% nhà quản lý cổ đông có liên quan đến chiến lược, 85% nhóm thực thi dành ít hơn một giờ mỗi tháng để thảo luận chiến lược và 60% tổ chức không liên kết ngân quỹ với chiến lược.
Quan niệm của giáo sư Trường kinh doanh Harvard John Kotter thì vai trò của người lãnh đạo rất quan trọng trong việc TCT công ty. Theo ông, có 8 bước thực hiện.
Đó là: tạo nên tính cấp bách, thành lập nhóm dẫn đường, phát triển tầm nhìn và chiến lược, truyền đạt tầm nhìn thay đổi, trao quyền cho nhân viên trong việc TCT, tạo ra thắng lợi ngắn hạn, cũng cố lợi nhuận và tạo ra nhiều thay đổi hơn, gắn chặt phương thức mới vào văn hóa công ty.
Theo các chuyên gia, trong “hành trình” TCT DN, truyền thông có vai trò rất quan trọng, chiếm đến 20% khối lượng công việc trong quá trình thay đổi các hành vi trong tổ chức. Việc truyền thông cần thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối dự án TCT.
“Truyền thông trong TCT là phải cụ thể bản chất sự thay đổi, giải thích tại sao, thông tin cho nhân viên thậm chí là tin xấu, liên tục lập lại mục đích thay đổi và kế hoạch hành động; sử dụng biểu đồ, hình ảnh trong truyền thông; thông tin hai chiều; vai trò của quản lý cấp trung; đa dạng kênh truyền thông, chính thức hóa các luồng thông tin...”, ông Thẳng nói.
“Khả năng tồn tại và phát triển của DN là điểm quan trọng nhất đảm bảo TCT bền vững trong dài hạn. Nếu một DN không có khả năng này thì sớm hay muộn gì cũng phải tiếp tục TCT hoặc TCT thất bại”, ông Đại phân tích.
Khả năng tồn tại và phát triển của DN được xác định không chỉ bởi vấn đề tài chính mà còn là sự kết hợp của nhiều vấn đề khác. Và bất kỳ vấn đề yếu kém nào đều có thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của DN, tác động đến sự thành công của TCT.
Một yếu tố nữa giúp việc TCT thành công, theo TS. Đặng Xuân Cảnh, Tổng giám đốc Công ty kiểm toán DTL, các công ty nên thuê chuyên gia có năng lực, sử dụng tư vấn pháp lý và tư vấn tài chính một cách chặt chẽ.

Cách cải thiện doanh số qua tiếp thị trực tuyến


Để đạt hiệu quả tối ưu, cần đảm bảo rằng các chiến dịch PPC phù hợp và thật cụ thể , các ứng dụng, website có thể truy cập dễ dàng từ các thiết bị di động. Các từ khóa, quảng cáo và landing page ngắn gọn, người tiêu dùng sẽ không dành nhiều thời gian để gõ hay đọc trên smartphone.

Tiếp thị trực tuyến có ảnh hưởng ngày càng lớn đến doanh số bán hàng. Trên thực tế, 89% người tiêu dùng đã tìm hiểu thông tin trên internet trước khi đến mua sắm tại các cửa hàng (số liệu Google-2010). Dự đoán, doanh số bán hàng nhờ tác động của thông tin trực tuyến sẽ tăng lên 1.000 tỷ đô la vào năm 2012 (Jupiter Research). Tận dụng thói quen tra cứu internet trước khi mua sắm, các nhà tiếp thị cần đánh mạnh vào quá trình quyết định mua của khách hàng.
Xác định “đại sứ thương hiệu”
Khách hàng trung thành chính là những “đại sứ thương hiệu” uy tín cho sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp. Xác định những ai sẽ là “đại sứ” cho thương hiệu của bạn để tập trung chăm sóc, củng cố mối quan hệ. Bên cạnh việc chăm sóc khách hàng thân thiết bằng khuyến mãi, quà tặng, các nhà tiếp thị nên thường xuyên cung cấp thông tin cho khách hàng qua email, tin nhắn, kết nối với khách hàng qua các trang mạng xã hội.
Đánh giá sản phẩm trực tuyến
Dự đoán, doanh số bán hàng nhờ tác động của thông tin trực tuyến sẽ tăng lên 1.000 tỷ đô la vào năm 2012
Theo số liệu của Opinion Research, 83% người tiêu dùng khẳng định các thông tin đánh giá, nhận định sản phẩm trực tuyến ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng. Do đó, sản phẩm/ dịch vụ càng có nhiều đánh giá tốt thì càng thuyết phục được khách hàng. Ngoài ra, Google còn tự động xếp hạng cao các trang web có nhiều phản hồi tốt.
Làm giả các đánh giá tốt là trái với qui định của các trang web chuyên đánh giá sản phẩm cũng như đạo đức kinh doanh. Tuy nhiên, các nhà tiếp thị có thể khuyến khích khách hàng viết đánh giá cho sản phẩm/dịch vụ. Đổi lại, khách hàng sẽ nhận được điểm thưởng hoặc khuyến mãi.
Tham gia các cộng đồng hỗ trợ khách hàng
Các cộng đồng hỗ trợ khách hàng (customer support community) như getsatisfaction.com cho phép các công ty tích hợp công cụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến vào website, trang Facebook, phần mềm chạy trên các thiết bị di động. Ứng dụng này không chỉ đưa ra câu trả lời nhanh cho các thắc mắc của khách hàng mà còn tạo ra các nội dung liên quan đến nhu cầu của khách hàng và thân thiện với các máy tìm kiếm.
Tham gia mạng xã hội
Tất nhiên, bạn không thể nắm bắt mọi cuộc trò chuyện lien quan thương hiệu, ngành công nghiệp, các đối thủ cạnh tranh chỉ qua các các cộng đồng hỗ trợ khách hàng ... Theo báo cáo của Forrester, người tiêu dùng dành khoảng 25% thời gian duyệt web trên các trang mạng xã hội. Do đó, các nhà tiếp thị cần tham gia tích cực các mạng xã hội để theo dõi và trả lời các cuộc đối thoại có liên quan đến thương hiệu. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn bị giới hạn trong các cuộc trò chuyện xung quanh thương hiệu. Tham gia trò chuyện với người tiêu dùng ngay cả trong các câu chuyện ngoài lề sẽ giúp khách hàng cá nhân hóa thương hiệu và đánh giá công ty ở mức độ đáng tin cậy hơn.
Tận dụng tin nhắn và email
Các mạng xã hội đã hút rất nhiều sự quan tâm của khách hàng cũng như các nhà tiếp thị. Tuy nhiên, với con số 93% người tiêu dùng Mỹ nhận được ít nhất một email quảng cáo một ngày ( số liệu ExactTarget -2010) và khối lượng của tin nhắn khổng lồ qua điện thoại mỗi ngày thì hai kênh tiếp thị này vẫn mở ra cơ hội rất lớn để bán hàng.
Gửi khuyến mãi dưới dạng mã cho khách hàng qua tin nhắn, email hoặc cập nhật thông tin sản phẩm thường xuyên để nhắc . Lưu ý, để tạo điều kiện cho khách hàng truy cập vào website dễ dàng qua các di động, bạn cần xây dựng website, các ứng dụng phù hợp để mang lại cho người sử dụng những trải nghiệm tốt nhất.
Tìm kiếm trên thiết bị di động
Với sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị GPS và bản đồ trực tuyến trong điện thoại thông minh cũng như các kết quả bản đồ trên trang kết quả tìm kiếm, tìm kiếm các địa điểm trong phạm vi địa phương (local search) đang nhanh chóng trở thành một kênh tiếp thị quan trọng. 70% các doanh nghiệp địa phương đã chuyển sang quảng cáo trực tuyến thay vì quảng cáo trên các trang vàng Trong số những người sử dụng một công cụ tìm kiếm trên điện thoại thông minh để tìm thông tin về các doanh nghiệp tại địa phương, có đến 77% khách hàng liên hệ với doanh nghiệp và 44% mua hàng (Google / Ipsos, 2011).
Để đạt hiệu quả tối ưu, cần đảm bảo rằng các chiến dịch PPC phù hợp và thật cụ thể , các ứng dụng, website có thể truy cập dễ dàng từ các thiết bị di động. Các từ khóa, quảng cáo và landing page ngắn gọn, người tiêu dùng sẽ không dành nhiều thời gian để gõ hay đọc trên smartphone.
Bán lẻ không phải là một lĩnh vực dễ tồn tại và cạnh tranh. Công ty của bạn sẽ nhanh chóng thất bại mà không có một chiến lược tiếp thị kỹ thuật số toàn diện. Phương tiện truyền thông truyền thống có những thế mạnh nhất định nhưng bạn không thể dựa trên đài phát thanh, truyền hình , báo in và sách “Những trang vàng” để tiếp thị hiệu quả nữa. Thói quen sử dụng các phương tiện truyền thong của người tiêu dùng đã thay đổi và các trang web đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình ra quyết định mua của khách hàng. Điều đó không có nghĩa là bạn cần phải có một trang web thương mại điện tử trị giá hàng triệu đô la để tồn tại nhưng bạn phải suy nghĩ về cách người tiêu dùng nghiên cứu hàng hóa trực tuyến và phát triển các chiến dịch tiếp thị phù hợp.

Huyền thoại và sức hút chiếc túi trị giá 150.000 USD

Năm nay, Birkin đã bước sang tuổi 27 nhưng sức hút của nó chưa bao giờ giảm. Cho dù thế nào thì số lượng lớn những người nổi tiếng trung thành với nhãn hiệu Birkins. Sự xuất hiện của những người nổi tiếng trong "Sex and the City" hay "Gilmore Girls" cùng chiếc túi Birkins đã ngày càng khẳng định sức mạnh của thương hiệu Birkin Hermès.


Có thể nói trong thế giới phụ kiện chiếc túi xách Birkin của hãng Hermès luôn đứng ở vị trí độc tôn. Làm thế nào Hermès tạo dựng Công ty 3 tỷ USD với thương hiệu túi xách Birkin? Vì sao phụ nữ thượng lưu thèm muốn Birkin đến vậy?
Những chiếc túi da trị giá cả một... gia tài!
 Chiếc túi xách Birkin của hãng Hermès
Một chiếc túi xách Birkin có thể có giá từ 10 nghìn USD đến 150 nghìn USD tùy thuộc vào kích thước và chất liệu. Đây thực sự là một mức giá khó tưởng tượng cho một chiếc túi xách!
Chiếc Birkin đầu tiên được thiết kế cho nữ diễn viên nổi tiếng Jane Birkin vào năm 1984. Sau đó nó cũng chỉ được sản xuất với số lượng rất hạn chế dẫn tới một thực tế là không phải ai cũng có thể sở hữu một chiếc túi sách Birkin Hermès chính hiệu.
Công ty Hermès có một danh sách dài khách hàng đặt mua túi, nhưng có lẽ khách hàng của họ phải đợi nhiều năm mới có thể có được sản phẩm mình mong muốn.
Birkin là sự lựa chọn yêu thích của những người giàu có và nổi tiếng, như Catherine Zeta-Jones, Katie Holmes và Eva Longoria... Victoria Beckham cũng là một tín đồ của Birkin. Cô đã là chủ bộ túi sách Birkins trị giá 2 triệu USD.
Cơn bão suy thoái kinh tế không ảnh hưởng gì đến Hermès. Bằng chứng là 1/2 doanh thu bán hàng 3,2 tỷ USD vào năm 2010 của công ty là từ túi sách da. Công ty này cũng vừa công bố tăng 50% lợi nhuận trong nửa đầu năm nay.
Hermès cũng là mối quan tâm lớn của LVMH (Moët Hennessy Louis Vuitton ) - tập đoàn quốc tế của Pháp chuyên về xa xỉ. Tập đoàn hàng xa xỉ lớn nhất thế giới này đã nuôi tham vọng kiểm soát nhãn hiệu Hermès Birkins từ lâu.
Michael Tonello, người từng kinh doanh Birkins trên eBay 8 năm, đã viết trong cuốn sách "Bringing Home the Birkin" rằng những gì công ty có được là kết quả của một chiến dịch tiếp thị hoành tráng kéo dài nhiều thập kỷ.
 Tại sao phụ nữ lại thèm muốn Birkin?
Có thể nói trong thế giới phụ kiện chiếc túi xách Birkin của hãng Hermès luôn đứng ở vị trí độc tôn.
"Nó thực sự rất tuyệt!" Tonello giải thích. Đàn ông thích những chiếc xe thể thao Italia hoặc đồng hồ hiệu Patek Philippe cũng giống như phụ nữ thích túi xách, những chiếc túi xách thể hiện đẳng cấp, sự giàu có và quyền lực. Khi sở hữu một chiếc túi xách Birkin, họ không phải lo đến chuyện "đụng hàng" với bất cứ ai.
Tonello nói, Hermès xây dựng thương hiệu với phương châm sản xuất với số lượng ít và chỉ bán cho những khách VIP hoặc những người nổi tiếng,
Tonello cũng đã từng kinh doanh khăn choàng cổ hiệu Hermès, trước kia ông thường bị từ chối mỗi khi bước vào một cửa hàng Hermès và hỏi mua một chiếc Birkin.
Năm nay, Birkin đã bước sang tuổi 27 nhưng sức hút của nó chưa bao giờ giảm. Cho dù thế nào thì số lượng lớn những người nổi tiếng trung thành với nhãn hiệu Birkins. Sự xuất hiện của những người nổi tiếng trong "Sex and the City" hay "Gilmore Girls" cùng chiếc túi Birkins đã ngày càng khẳng định sức mạnh của thương hiệu Birkin Hermès.
"Không một công ty nào tạo ra được các sản phẩm có được sức hút mạnh mẽ như những sản phẩm tinh sảo của Hermès," Tonello nói. Tất cả những sản phẩm tuyệt vời đó được sản xuất bởi các thợ thủ công lão luyện nhất thế giới tại xưởng sản xuất ở Paris do đó những người mua Birkin tự coi mình là những người may mắn. Ông nói thêm: "Con người thường muốn những gì họ không có - đó chính là lý do thành công của Birkin".